Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

“Hãy rửa tai để được nghe lời nói thật”

(Dân trí) - Đó là lời của Nhà báo Hữu Thọ chứ không phải của mình. Còn Giáo sư Hoàng Tụy, một người nổi tiếng vì tài năng và cốt cách thì nói thẳng băng: “Sự giả dối đang là mối nhục lớn”
(Minh họa: Ngọc Diệp)
 
Cách đây mấy năm, mình hỏi Nhà báo Hữu Thọ, bác đánh giá như thế nào về “mối nhục lớn” này? Ông Thọ bảo rằng thời nào cũng có người nói dối và sự dối trá có mặt trên mọi ngõ ngách thế gian. Chỉ có điều, nó xuất hiện với tần số và dung lượng như thế nào thôi. Mình hỏi về “tần số và dung lượng” hiện nay, ông Thọ bảo theo cảm nhận của ông thì “ở mức trầm trọng…”.
Ông cha ta thường khuyên bảo con cháu phải thật thà. Dân tộc ta luôn yêu mến, quý trọng những người trung thực, ngay thẳng. Tại sao giờ đây, sự dối trá lại trở thành “quốc nạn”, “trầm trọng” nhỉ?
Mình băn khoăn và nỗi băn khoăn này đã được Nhà báo Hữu Thọ giải đáp trong một lần trả lời phỏng vấn mình. Ông Hữu Thọ bảo rằng người nói dối đương nhiên là xấu nhưng vấn đề là “có một nhu cầu muốn nghe nói dối từ phía người nghe”. Vả lại, muốn nghe một sự thật cũng không dễ vì sự thật nó không tự đến mà anh phải tìm đến nó. Rồi anh phải đủ niềm tin ở người ta thì người ta mới nói sự thật với anh. Anh cũng phải có đủ bản lĩnh để sàng lọc, tìm ra những thông tin chính xác.
Hôm ấy, ông Thọ còn kể cho mình nghe hai câu chuyện. Chuyện thứ nhất là từ một vở kịch nước ngoài mà ông Thọ được xem từ lâu lắm rồi. Đại để là một vị quan hỏi một kẻ thuộc cấp vì sao nói dối, không nói thật những khiếm khuyết của xã hội, của các mệnh lệnh. Gã thuộc cấp này thưa rằng bởi tôi đã ba lần nói thật thì cả ba lần đều bị quở mắng, trừng phạt cho nên chẳng dại gì mà tôi nói thật nữa.
Câu chuyện thứ hai, ông Thọ nhớ hình như trong một truyện ngắn của nhà văn Vũ Bằng kể về một họa sĩ tài năng nhưng lại có vai vế trong xã hội. Khi triển lãm tranh của mình, ông họa sĩ phải cải trang và nấp kín để được nghe lời bình phẩm thật về những bức tranh của mình vì khi anh đã có một địa vị nào đó mà xuất hiện, rất khó được nghe những lời nói thật. Không ít kẻ nịnh bợ, tâng bốc anh nhưng cũng có người chỉ vì nể nang mà không nỡ nói ra sự thật.
 “Muốn nghe được lời nói thật là phải công phu lắm, phải thành tâm lắm. Hãy rửa tai để nghe lời nói thật vì không có lời nói thật nào mà không có vị chua chát. Để bệnh nói dối tràn lan chủ yếu là tại người nghe”. Ông Thọ kết luận. Rồi như để tâm sự, giọng ông chợt trầm xuống: “Tâm lý con người rất phức tạp. Khi anh còn là cấp dưới thì anh muốn “cãi” cấp trên, nhưng khi có quyền lực thì anh lại không muốn người ta cãi lại mình. Phức tạp thế đấy”.
Mình xin mượn câu thơ của Nhà thơ Trần Đăng Khoa “Trăng ơi… từ đâu đến?” làm tựa đề cho bài viết này: “Giả dối.. từ đâu đến?”.
Theo các bạn, giả dối từ đâu đến?
Làm thế nào để không còn là “mối nhục lớn” và “trầm trọng” nữa?
Bùi

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

Đọc blog của cựu Thủ tướng Nhật Naoto Kan

TTCT - Nhường chuyện đánh giá thành bại của ông Naoto Kan cho báo chí quốc tế, TTCT mời bạn đọc cùng tìm hiểu con người vị thủ tướng thứ 29 của nước Nhật thời hậu chiến qua blog của ông (kansblog.kantei.go.jp), được văn phòng thủ tướng dịch sang tiếng Anh.
Thủ tướng Naoto Kan tuyên bố từ chức tại cuộc họp ở Tokyo ngày 26-8 - Ảnh: Reuters
Bài cuối cùng trên blog của ông hôm 16-8 có 561 từ, tựa đề là “Đối thoại với các chuyên gia: “Bây giờ hoặc chẳng bao giờ”, các biện pháp chống lan nhiễm phóng xạ”. Tựa đề đó phản ánh những “thu hoạch” của ông từ cuộc gặp với các chuyên gia bằng một thái độ cầu thị. Ông kể: “Cùng với các bộ và thứ trưởng hữu quan, một lần nữa hôm qua tôi lại lắng nghe bảy chuyên gia trong hơn ba giờ... Tôi cũng nghe bày tỏ những lo âu sâu sắc của công chúng, đặc biệt của những người có con nhỏ”.

Lắng nghe tri thức đầu ngành
“Thay vì đợi chính phủ tới kịp nhập cuộc vào vấn đề, tôi sẽ xắn tay vào việc giải quyết vấn đề ngay trước khi tôi từ chức”
Thủ tướng NAOTO KAN
Qua câu chuyện ông kể, thoáng thấy cái cơ chế “lắng nghe” của đất nước ông: “Chuyên gia đầu tiên là GS Tatsuhiko Kodama, giám đốc Trung tâm đồng vị phóng xạ Đại học Tokyo, người từng ra điều trần trước Quốc hội như là một nhân chứng...”.
Hiến pháp Nhật ngày 3-11-1946 đã quy định sẵn việc mời các nhân chứng ra điều trần trong điều 62 mỗi khi cần “tiến hành điều tra liên quan đến chính phủ”, qua đó giới trí thức được vời đến đóng góp vào chức trách kiểm tra của Quốc hội Nhật.
Trong thực tế, Hạ viện Nhật đã và còn đang điều tra về trách nhiệm của Chính phủ và của các cơ quan, đơn vị liên quan đến sự cố hạt nhân và nhất là những động thái sau sự cố. Hôm 27-7, GS Tatsuhiko Kodama đã được tiểu ban y tế, lao động, xã hội Hạ viện Nhật mời ra làm chứng về những tác hại của tai họa hạt nhân Fukushima, góp một tiếng nói chuyên môn khách quan vào những giải biện của Chính phủ hay của công ty điện lực liên quan.
Có thể tóm tắt điều trần “lên án” của GS Kodama như sau: “Có bao nhiêu chất đồng vị đã thoát ra từ nhà máy? Chính phủ và TEPCO đã không báo cáo... Vậy thì chúng tôi phải đánh giá... Và nó tương đương với 29,6 quả bom nguyên tử Hiroshima... Căn cứ trên tri thức hiện thời của chúng tôi, lượng phóng xạ tồn đọng sẽ chỉ giảm được 1/10 mỗi một năm sau sự cố”.
Và rồi GS Kodama đề ra bốn biện pháp mà Chính phủ Nhật cần theo đó mà làm ngay, đồng thời vạch ra một “sai lầm tai họa” cho người dân: “Điều khiến cho tình hình thêm bức xúc là chuyện hỗ trợ đền bù. Tiền này chỉ chi cho những người bị cưỡng bách di tản. Cựu chủ tịch Công ty điện lực TEPCO Shimizu và Bộ trưởng Thương mại và công nghiệp Banri Kaieda (ông này vừa thất bại trong cuộc đua giành ghế thủ tướng với Bộ trưởng Tài chính Yoshihiko Noda - TTCT) đã chỉ nói có mỗi chuyện đó. Đừng trộn lẫn hai chuyện. Hãy tách bạch chuyện hỗ trợ đền bù với vấn đề sức khỏe ngay trước mắt...”.
Dò lại bản điều trần của GS Kodama, càng hiểu tại sao Thủ tướng Kan, khi viết bài đó trên blog, lại tỏ ra rất nể trọng ý kiến của GS này cùng sáu chuyên gia kia.
Ông kết luận buổi gặp lắng nghe đó như sau: “Bản thân tôi đã nêu một số câu hỏi... Thay vì đợi chính phủ tới kịp nhập cuộc vào vấn đề, tôi sẽ xắn tay vào việc giải quyết vấn đề ngay trước khi tôi từ chức”. Hiến pháp nước Nhật đã dự liệu và quy định thành điều luật tối thượng vai trò điều trần trước quốc hội của các chuyên gia là như thế, chính phủ cứ như thế mà chấp hành.

Truyền lửa cho thế hệ sau
Bài viết đề ngày 15-8 của ông Kan còn ngắn hơn, chỉ 358 từ, do hôm ấy ông bận đủ thứ, trong đó có dự lễ kỷ niệm 66 năm ngày Thế chiến thứ hai kết thúc. Ông nhắc lại với dân chúng: “Thế giới đã ngất ngây trước việc thế hệ trước thế hệ tôi đã có thể tái thiết được nước Nhật từ các cánh đồng tro tàn sau chiến tranh. Một lần nữa chúng ta hãy ôn lại tinh thần tái thiết này, suy nghĩ về tinh thần đó, để đưa lại tinh thần đó vào công việc tái thiết hiện nay... Trong các lĩnh vực mà tôi đang đeo đuổi bằng mọi giá - tổng hợp một đề án cải cách có thể giải quyết cùng lúc các vấn đề an sinh xã hội và các vấn đề thuế khóa; hồi phục và tái thiết từ thảm họa động đất; đưa tai họa hạt nhân đến giai đoạn kết thúc ổn định; cải cách cơ bản công tác quản lý năng lượng hạt nhân..., chúng ta đã thành công tiến đến điểm “không thể quay đầu về dĩ vãng” được nữa... Chúng ta không thể chậm rãi từng bước. Nội các này của Kan sẽ dành hết sức mình để làm tròn trách nhiệm cho đến giây cuối cùng”.
Thật ra ông Kan đã từng chính thức đòi từ chức từ hôm 2-6, vài giờ trước khi Quốc hội Nhật sắp bỏ phiếu tín nhiệm/bất tín nhiệm ông. Kết quả - chỉ có 152 phiếu bất tín nhiệm so với 299 phiếu tín nhiệm - càng tăng uy tín của ông Kan. Đến ngày 10-8, ông lại tuyên bố từ chức và lần này là ra đi luôn. Thành ra, không lấy làm lạ tại sao văn phong của ông lại nặng ý chia tay như thế!
Song không phải là một sự chia tay trong yếm thế mà trong phấn đấu đến phút giây cuối cùng. Ông kể đã làm gì và để lại gì cho người thủ tướng kế nhiệm: “Thỏa thuận tuần trước giữa lãnh đạo ba đảng Dân chủ (DPJ), Tự do dân chủ (LDP đối lập) và Komeito Mới đã đoan chắc rằng đạo luật dự chi ngân sách liên quan đến việc phát hành trái phiếu chính phủ sẽ được thông qua; đạo luật về việc xúc tiến các nguồn năng lượng tái tạo cũng thế...”.
Thành ra, bảo rằng đợi thông qua các đạo luật then chốt đó ông mới ra đi là chính xác. Công việc sắp tới của người kế vị ông, riêng trong các lĩnh vực này, đã được ông “dọn đường” bằng một thỏa thuận với đảng đối lập LDP để sau này đừng bị “thọc gậy bánh xe”, nhất là khi cơ cấu quản lý năng lượng hạt nhân mới sẽ va chạm với những lợi ích cũ.
Có thể thấy cách ông truyền lửa nhân ngày kỷ niệm 15-8: không chỉ hô hào mà chủ yếu còn qua tấm gương vùng vẫy cho đến giây phút cuối cùng trước khi giũ áo từ quan!

Kêu gọi dân tiêu xài thêm một chút
Nguy cơ thiểu phát mà tân Thủ tướng Yoshihiko Noda đề cập đến hôm 29-8 là một thực tế mà qua blog của cựu Thủ tướng Kan, người đọc xa xôi với hiện tình xã hội Nhật sẽ dễ thấu hiểu hơn. Hôm thứ tư 13-4, tức một tháng sau thảm họa động đất - hạt nhân, ông Kan viết: “Từ sau tai họa động đất khổng lồ vùng phía đông nước Nhật, tôi đã thôi không gửi các suy nghĩ của mình lên trên blog nữa. Đó là để tránh làm rối thêm tình hình... và để tôi dành trọn vẹn cho tai họa... Tôi sẽ trở lại blog từng chút một. Trong cuộc họp báo hôm qua, tôi đã kêu gọi dân chúng bớt khắc khổ thái quá. Do lẽ khắc khổ thái quá sẽ làm giảm tiêu dùng và qua đó làm nản lòng hoạt động kinh doanh của cả nước Nhật. Ngược lại, mua sắm hàng hóa từ những vùng bị thảm họa, thụ hưởng từ sự mua sắm đó, chính là sẽ giúp đỡ các vùng bị sự cố đó”.
Không rõ ông Kan có thuê một “thợ viết” nào để viết blog giùm ông, song rõ ràng là văn phong của blog ông phản ánh được tính khí ông: không hoa mỹ, hàn lâm, mệnh lệnh...

DANH ĐỨC

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Ấn tượng đầu tiên của ông “không ấn tượng”

page Nguyễn Phú Trọng là nhân vật nhạt nhòa. Tuy nhiên, ông vừa làm được một điều không thể không khen: Lần đầu tiên, khi về làm việc với các bộ ngành và  địa phương, Tổng Bí thư đã không để cho họ căng khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng” mình. Từ khi ngồi ghế Tổng Bí thư đến nay, đó là ấn tượng đầu tiên của ông “không ấn tượng”.
          Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các Phó Thủ tướng và thành viên chính phủ đang có những chuyến làm việc với các bộ ngành và địa phương. Dường như đây là đợt “xuống cơ sở” đầu tiên của nhiệm kỳ mới.
          Không thấy gì mới. Điều mới duy nhất ít nhiều gây ấn tượng trong tôi lại ở chính nhân vật “không ấn tượng”: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Lần đầu tiên, khi về làm việc với các bộ ngành và địa phương, Tổng Bí thư đã không để cho họ căng khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng” mình (Vậy mà không hiểu sao chả thấy một tờ báo nào lên tiếng khen cho ông Tổng một câu. Trong khi lại chăm chắm miệt mài “khai thác” hết công suất vụ giết người man rợ ở Bắc Giang).
oTrong
          TBT Nguyễn Phú Trọng làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam ngày 13/8  (ảnh: TTXVN, dẫn theo báo Hà Nội mới)
lien hiep hoi
          TBT Nguyễn Phú Trọng làm việc với Ban Tuyên giáo trung ương ngày 15/8 (ảnh: báo Đại biểu Nhân dân)
kien giang
          TBT Nguyễn Phú Trọng làm việc với lãnh đạo tỉnh Kiên Giang ngày 28/8 (ảnh: báo Đại biểu Nhân dân)
          Trong khi đó, tất tật từ Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng đến các Phó Thủ tướng, thậm chí cả những vị Bộ trưởng thành viên chính phủ đến đâu cũng “nhiệt liệt chào mừng”, cũng chễm trệ ngồi dưới những tấm bảng băng rôn “nhiệt liệt” đỏ lòm để làm việc và huấn thị các bộ ngành và địa phương.
2773235
         Chủ tịch nước Trương Tấn Sang làm việc với Tòa án tối cao ngày 30/8 (ảnh: trang web Tòa án tối cao)
untitled
          Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng làm việc với Văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh Nghệ An sáng 11/8 (ảnh: báo Nghệ An)
BAC0599
          Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm việc với lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên- Huế chiều 2/9 (ảnh báo điện tử Chính phủ)
HINH1-1
          Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Trị chiều 3/9 (ảnh báo điện tử Chính phủ)
nxphuc
          Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi kiểm tra công tác đặc xá tại Trại giam Hoàng Tiến ngày 22/8, nhưng đến cả trại giam cũng phải “nhiệt liệt chào mừng” (ảnh báo điện tử Chính phủ)
IMG_3645%20resized
          Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh làm việc với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia sáng 29/8 ngay giữa thủ đô Hà Nội cũng “nhiệt liệt chào mừng” (ảnh: báo điện tử Chính phủ)
ntnhan
          Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân làm việc với công ty Cổ phần Traphaco ngày 2/7 (ảnh: trang tin điện tử Truyền thông giáo dục sức khỏe)
dinh la thang
          Đến ông tân Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng đi làm việc với ngành Đường sắt ngày 18/8 cũng “nhiệt liệt chào mừng” (ảnh: trang web Tổng công ty công trình đường sắt)

          “Nhiệt liệt chào mừng” là câu khẩu hiệu dành cho nghi thức ngoại giao. Mọi quan hệ quan- dân, trên- dưới trong hoạt động đối nội, trong trách nhiệm đương nhiên của đảng, nhà nước và chính phủ phải chấm dứt “nhiệt liệt”. Tôi muốn phong trào “nói không với nhiệt liệt chào mừng” được phát động và áp dụng ngay từ hôm nay. Mà trước hết, từ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội… đến tất thảy các ngài Bộ trưởng, Thứ trưởng và Trung ương ủy viên. Không “nói không với nhiệt liệt chào mừng” được thì cái quãng cách cầu nối với dân vẫn còn rất xa. Và mọi lời huấn thị, rao giảng dưới những câu “nhiệt liệt” ấy rất khó lọt tai dân”- Tôi viết những dòng này từ hai năm trước trong bài “Nói không với nhiệt liệt chào mừng”.
          Chờ hai năm sau, mới thấy được một ông dám “dũng cảm” nói không. Bất ngờ ở chỗ nó lại xảy ra với một nhân vật tôi không chút kỳ vọng nào: ông Tổng Bí thư “không ấn tượng” Nguyễn Phú Trọng.
          Không biết từ chuyện này, liệu ông Trọng có để lại thêm được những ấn tượng nào khác, hay cũng chỉ đến vậy? Dù sao thì đây cũng là điều không thể không khen. Tuy nhiên, ông không nên gương mẫu theo cách lẳng lặng “nói không” một mình. Với quyền năng Tổng Bí thư, ông phải làm sao để từ nay buộc tất thảy Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng, Thứ trưởng và Trung ương ủy viên… không được để cho các địa phương “nhiệt liệt chào mừng” mình. Làm tiếp được điều này, ông Trọng sẽ ấn tượng hơn, ấn tượng thật và tỏ rõ quyền uy thật.
          Hay biết đâu có thể các vị Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội… đến tất thảy các ngài Bộ trưởng, Thứ trưởng và Trung ương ủy viên nhìn thấy vậy sẽ biết “xấu hổ” mà “nói không” theo? Tuy nhiên tôi không tin và kỳ vọng vào cái sự tự biết xấu hổ này.
BAC0599 - Copy

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Đến thượng đế cũng phải cười

Tặng các bạn tôi: Kim Dung, Trần Thị Sánh, Nguyễn Thị Bé, Thu Hà, Xuân Ba, Hương Big, Quang Tửu...
Sau này, các nhà viết lịch sử báo chí đầu thế kỷ 21 muốn kiếm tư liệu quý này, xin cứ hỏi, tôi sẽ để lại với giá mỗi chữ trong ảnh là một chỉ vàng

Mình có lẽ là người duy nhất ở miền Nam đọc báo Hà Nội Mới. Thì cứ ngoa ngôn phét lác tí như thế chẳng chết ai. Mà cũng có lý bởi mình có rất nhiều bạn ở thủ đô, quân dân chính đảng nam phụ lão ấu quốc doanh dân doanh đủ cả, thỉnh thoảng làm cuộc điều tra mini, hỏi chúng mày đọc báo tiếng nói của đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô có hay không, chúng nhấm nhẳn (xin lỗi) tao có đọc đéo đâu mà hỏi. Thế thì mình vẫn hơn chúng nó, những công dân của thành phố hòa bình.
Mê đọc báo, dù báo quốc doanh, dù báo Hà Nội Mới, không có gì phải xấu hổ. Mình tự hào có tiền án tiền sự về điều này. Những năm 1972-1976 học ở Hà Nội, dù trường và ký túc xá mãi ngoài Mễ Trì ngoại thành xa tít, mất những một hào tiền vé tàu điện vào tận bến tàu trung tâm Bờ hồ (Hoàn Kiếm), nhưng hễ tới nơi là thế nào mình cũng cuốc bộ đến trụ sở báo Hà Nội Mới (44 Lê Thái Tổ) mặt tiền trông ra rặng liễu xanh ngắt, để đọc báo. Dạo ấy báo chí hiếm lắm, chả mấy ai có tiền mua báo, còn cơ quan đặt mua thì chỉ nhõn mấy ông bà sếp được đọc, họ chưa kịp đọc thì họ nửa kín đáo nửa công khai đem về nhà đọc tiếp, kết hợp có báo cũ bán cho mấy bà gói xôi hoặc đồng nát. Vậy thì những kẻ không tiền như mình phải tìm mọi cách đọc ké. Nhiều tòa báo dựng hẳn một cái khung to chắn lưới mắt cáo, hằng ngày đính lên đó tờ báo mới, quay đủ mặt trong mặt ngoài chả sót trang nào. Vào đầu giờ mỗi sáng, người mót báo mà ít tiền như mình cứ xúm đông xúm đỏ, châu đầu vào thùng lưới đọc mê mải. Nhiều bác già chen vã mồ hôi, đọc xong ra mặt mũi đỏ bừng, người như ngây ngất say say. Chả biết có tiếp thụ được cái gì không mà nghiện thế. Tàu điện Hà Đông-Bờ Hồ qua Mễ Trì thì dừng ga ở Thanh Xuân, mình phóc lên cứ nhằm chỗ đông mà lẩn vào. Thường thì chỉ trả 5 xu để đến ga Cầu Mới hoặc Thượng Đình, sau đó né né anh soát vé, tới ga cuối vội phóc xuống, thở phào, đỡ được 5 xu. Tổng kết lại rất nhiều chuyến vào trung tâm thành phố đi chơi đã đời, đọc ké hết báo Nhân Dân đến báo Hà Nội Mới (trụ sở gần nhau), vào Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền lượn qua lượn lại, chán chê thì lê chân rã rời với cái bụng đói meo về bến Bờ Hồ lên tàu nhằm ký túc xá, chi phí cả đi lẫn về, xem báo, ngó hàng có chuyến chả mất xu nào, chuyến thì 5 xu, chuyến cao nhất một hào. Hầu như quanh năm suốt tháng rỗng túi. Mãi đến năm 1974 mình mới được ăn bát phở bò đầu tiên sau mấy tháng dành dụm (cái này là cả một thiên truyện, để dành viết sau).
Với báo Hà Nội Mới mình cũng có thêm chút kỷ niệm nhỏ nữa. Thời sinh viên, đứa nào chả tập tọng làm tí thơ phú. Năm 1975, khi ấy lăng cụ Hồ mới khánh thành, mình lần mò vào xem. Lội bộ từ ga Hàng Bột, qua Nguyễn Thái Học, Hoàng Diệu mới tới nơi. Hoành tráng thật, đẹp thật, cảm xúc trào dâng. Về ký túc xá cặm cụi viết một bài dạng thơ 5 chữ, nắn na nắn nót, xong rồi lại xé, thêm chữ này, thay hình ảnh khác, mấy lần mới hoàn thành, đặt tít là "Cây ở lăng bác Hồ", còn nhớ đoạn cuối kết như vầy:
"Sáng Ba Đình rực nắng
Nghe lá cành lao xao
Tưởng bàn tay Bác vẫy
Với muôn đời mai sau"
hay phát khóc lên được. Bản cuối cùng mình thấy có vẻ vừa ý, đem trình lên thi sĩ Bùi Trọng Cường. Anh Cường là sinh viên khoa Hóa ĐH Tổng hợp đi bộ đội, sau về học lại nhưng vào Văn khoa, học chung lớp, ở chung phòng với mình. Anh Cường rất máu văn chương, thi tứ dồi dào, có thơ đăng báo Văn Nghệ trung ương và nhiều báo khác liên tục, chơi với toàn danh nhân như Trần Hòa Bình, Bùi Quang Thanh, Đỗ Minh Tuấn, Trần Trường Chiến (Trần Chiến), Bế Kiến Quốc...; dạng như anh ấy ở khoa Văn đếm trên đầu ngón tay. Vừa nghe nhạc (bác Cường có chiếc máy quay đĩa than, cả khoa chỉ mỗn bác ấy có) vừa nhìn lướt qua tác phẩm tâm huyết của mình, lát sau bác gật một nhát, buông một câu: được. Mình sướng củ tỉ, bèn năn nỉ hỏi bậc đàn anh vậy thì em gửi cho báo nào để chắc ăn, anh Cường bảo mày đừng bắt chước mấy ông Nguyễn Dương Côn, Đỗ Minh Tuấn, Triệu Xuân Điến (Triệu Xuân), Nguyễn Tri Nguyên, Thái Kế Toại… (mấy anh học khóa trước thường có văn thơ đăng trên báo Văn Nghệ, Nhân Dân), cứ gửi cho những tờ làng nhàng thôi, kiểu Độc Lập, Chính Nghĩa, Tổ Quốc, Hà Nội Mới thì dễ lọt. Sáng hôm sau, mình cất công làm cuốc xe điện Bờ Hồ, lân la đến tờ Hà Nội Mới, rụt rè đưa cho bác bảo vệ cái phong bì dán kỹ lưỡng, ngoài ghi nắn nót “Bài đăng báo” nhờ bác chuyển. Ông già nhận, bỏ tọt vào chiếc ngăn kéo, xong chả để ý gì đến mình nữa. Vậy mà về lòng cứ lâng lâng. Hơn hai tháng sau nhận được giấy báo đến lĩnh nhuận bút, 3 đồng rưỡi, nhưng báo biếu thì không còn nên mình cũng chả biết đứa con tinh thần của mình đẹp xấu thế nào. Dẫu sao cũng là một kỷ niệm đẹp với tờ báo của thủ đô.
Năm 1977 mình vào Nam, bẵng hơn hai chục năm không đọc báo Hà Nội Mới. Thỉnh thoảng ra Hà Nội vẫn lượn qua căn nhà phố Lê Thái Tổ hướng mặt hồ, vẫn thấy cái hòm trước cổng nhưng đã thay vỏ đẹp hơn, lưới mắt cáo được thay bằng kính, phía trong trưng bày số báo mới ra. Khác ngày xưa, giờ họa hoằn lắm mới có người dừng lại liếc nhìn, thoáng chốc rồi quày quả đi ngay. Báo chí nhiều quá, lá cải quá khiến bạn đọc nản, mất cả hứng thú, niềm tin, niềm say mê. Mình cũng làm báo, lại kiêm luôn người mê báo nên mình thấy rất rõ điều này. Cô bạn mình, một thời là thư ký tòa soạn, trưởng một ban quan trọng của tờ báo Hà Nội Mới nhưng hầu như mình chỉ được đọc bài viết của nó trong những số báo xuân, thường là phỏng vấn mấy vị trung ương hoặc quan đầu tỉnh; nói ra sợ nó chửi, những bài dạng vô thưởng vô phạt. Nó tốt tính, làm quan báo nhưng xuề xòa, hay rủ bạn bè đi ăn uống, nó bao tất, giờ về hưu kinh doanh, nghe đâu còn giầu gấp mấy lần hồi làm báo.
Bản này cụ thể hơn
Suốt mấy tháng trời vừa qua, thủ đô lên cơn chộn rộn khiến con người bao nỗi truân chuyên. Báo chí nhận được lệnh án binh bất động nên cứ nín khe, im hơi lặng tiếng. Ấy thế mà lại hay, đỡ phải nghe chửi. Vậy mà đánh đùng một cái, nhận lệnh chỉ đạo của cấp trên, nghe nói từ cục Báo chí-xuất bản, bộ 4T, mấy báo thủ đô lĩnh ấn tiên phong, đánh cho bọn biểu tình yêu nước nhiều trận tơi bời hoa lá. Ngoài mấy anh chị nhà báo có tên tuổi nhưng chắc sợ người ta chửi nên giấu tên, chỉ dám ký cóc ổi xoài, còn có cả phó giáo sư, tiến sĩ, nhà văn múa bút rất hung hăng. Một bên nắm cơ quan truyền thông trong tay, tha hồ nói, ngang dọc phải trái kiểu nào cũng được, còn một bên cứ đớ lưỡi vì tay không, chỉ dựa vào ba cái anh bờ lốc bờ leo, mạng này mạng nọ, nhằm nhò gì. Dân tình ớ ra chả biết tin ai. Mình vội sục sạo tìm báo Hà Nội Mới thân yêu, ở Sài Gòn tuy khó kiếm nhưng không phải không có. Đọc được mấy bài, cười ngất. Choáng. Tờ báo là tiếng nói của nhân dân thủ đô, nhưng sao các tầng lớp nhân dân thủ đô dạo này ăn nói linh tinh nhỉ. Cái bài báo mà mình chụp tấm ảnh kỷ niệm kèm theo đây là dẫn chứng rõ nhất. Hay là không phải, mình vẫn cứ hồ nghi, người Hà thành nào có thế bao giờ. Dứt khoát không phải là giọng điệu của người Hà Nội mà mình xưa nay yêu mến.
Còn bản này dễ xem nhất
3.9.2011
Nguyễn Thông

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

Tuyên ngôn độc lập và hướng đi của thời đại

(TuanVietNam) - "Những gì đã cũ kỹ, hư hỏng" sẽ chống lại quyết liệt, và sẽ là lực cản ghê gớm cho sự xuất hiện "những cái mới mẻ, tốt tươi". Cho nên, dân chủ và tự do không thể là ân huệ được ban phát mà là phải đấu tranh để giành lấy. Đấu tranh với ai? Với "những gì đã cũ kỹ, hư hỏng".
Thời gian là sự kiểm nghiệm chuẩn xác nhất cho một tư tưởng, một tầm nhìn, một hướng đi. Với hơn nửa thế kỷ, Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh soạn thảo và tuyên bố trước thế giới vào ngày 2.9.1945 đã tỏ rõ sức sống dẻo dai, đưa đất nước vừa thoát ách nô lệ dấn bước vào quỹ đạo phát triển của thời đại.
Những trải nghiệm nghiêm khắc của lịch sử cho thấy tầm nhìn của Hồ Chí Minh về hướng đi của dân tộc trong một thể chế dân chủ cộng hòa là hoàn toàn chính xác. Thật ra thì tên gọi không là điều quyết định, vấn đề là thực chất thể chế mà nhà nước ấy hướng tới và phấn đấu thực hiện.
Dân chủ nằm ngay trong tên nước và mục tiêu hướng tới được ghi rõ ngay dưới tên nước: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Nước có độc lập thì dân mới có tự do để làm ăn sinh sống, tự do suy nghĩ và hành động để mưu cầu hạnh phúc. Dân chủ là điều kiện tiên quyết để có tự do, và có tự do mới thực sự có hạnh phúc!
Với Hồ Chí Minh, nội dung đó luôn luôn thiết thực, luôn luôn cụ thể và trước sau như một. Bát cơm, manh áo cho người dân đang đói khổ chính là mệnh lệnh chiến đấu trực tiếp của nhà nước cách mạng. Hồ Chí Minh nhắc nhở : "Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ".
Cho nên, chống giặc đói là việc đầu tiên trong sáu vấn đề cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngay sau bát cơm, là nhu cầu dân chủ, là vấn đề dân trí.
Chống dốt là vấn đề thứ hai, tiếp đó, "quyền tự do, dân chủ" là vấn đề thứ ba.1 Điều này mở đầu cho Tuyên Ngôn Độc lập 2.9.1945 : "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là khát vọng cháy bỏng ngàn đời của con người, của loài người.
Và đó cũng là khát vọng cháy bỏng của Hồ Chí Minh. Vì khát vọng đó, Hồ Chí Minh đã cống hiến toàn bộ cuộc đời cho tự do của con người, trước hết là người Việt Nam trên đất nước thân yêu của mình. Bởi vì, với Hồ Chí Minh, "trên đời ngàn vạn điều cay đắng, cay đắng chi bằng mất tự do" [Nhật ký trong tù]. Và để có tự do, thì trước hết là phải giành lại độc lập cho Tổ quốc, giành lại quyền dân chủ cho nhân dân Việt Nam.

Độc lập là điều kiện để giành Tự do. Và Dân chủ là điều kiện để đấu tranh giành Tự do.
Phải từ cái logic ấy mới hiểu được, vì sao Hồ Chí Minh mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 bằng những "lời bất hủ" [từ dùng của Hồ Chí Minh] trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, và tiếp đó là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp.
Có người nói đó là một sách lược chính trị, đặt cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 với việc ra đời nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên một quốc gia đã gần 100 năm bị xóa tên trên bản đồ thế giới vào trong bình diện quốc tế để xác lập vị thế của Việt Nam trên bình diện đó. Thì chính "Tuyên ngôn" nói rất rõ : "Chúng tôi tin chắc rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam".
Sách lược? Đúng. Song, điều lớn hơn cần phải nói rõ, chính "những quyền không ai có thể xâm phạm được" của con người mới là mục đích tối hậu mà Hồ Chí Minh hướng tới. Bởi lẽ, "con người sinh ra đã là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi, con người lại đang bị cùm kẹp" đó là ý tưởng mở đầu cho "Khế ước xã hội" của J.J Rousseau, một cột mốc lớn trong tư duy của con người tự nhận thức về quyền làm người của mình. Tư tưởng ấy cũng khởi đầu cho sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Trên báo L'Humanité ngày 2.8.1919, Nguyễn Ái Quốc đòi : "những quyền tự do mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ khốn nạn". Cũng trong bài báo này, "người yêu nước" ấy chỉ rất rõ những quyền tự do, trong đó có "tự do báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do dạy học, thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ pháp luật" 1.
Không hề ảo tưởng khi nêu lên những điều này vì Hồ Chí Minh biết rõ quy luật nghiệt ngã trong cuộc đấu tranh giành tự do dân chủ. Khi dẫn ra những lời bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, có thể Hồ Chí Minh đã hiểu ràng, để có bản tuyên ngôn nói trên do Thomas Jefferson soạn thảo, bao nhiêu máu đã đổ, bao người phải tù đày Bỗng gợi nhớ đến câu nói bất hủ của Hoàng Văn Thụ của chúng ta : "Trong cuộc đấu tranh giữa chúng tôi, những người yêu nước và các anh, những kẻ cướp nước, sự hy sinh như tôi là một lẽ thường tình! Chỉ biết cuối cùng chúng tôi sẽ thắng!".
Là một chiến sĩ cách mạng từng trải đã bôn ba khắp năm châu bốn biển, cũng đã từng nhiều năm sống trên quê hương của Cách mạng Pháp 1791 và Công xã Paris, cũng như đã nhiều năm có mặt trên quê hương của Cách mạng Tháng Mười với nhà nước Xô Viết hùng mạnh, vốn được những người cách mạng xem là thành trì bất khả xâm phạm thậm chí là "thiên đường trên trái đất", Hồ Chí Minh đã thấy được và cảm nhận được những mặt trái của tấm huân chương mà có thể những người chưa có trải nghiệm không thể thấy được, hiểu được.
Hơn nữa, với tầm nhìn của một nhà văn hoá lớn, am hiểu sâu sắc triết lý và văn hoá phương Đông và truyền thống văn hóa dân tộc mình, lại từng tiếp thu tinh hoa của nền văn minh phương Tây, để rồi gắn kết với bản lĩnh và tri thức cách mạng, Hồ Chí Minh cảm nhận sâu sắc những vấn đề cơ bản nhất, thiết yếu nhất đồng thời cũng là sâu xa nhất mà cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 phải hướng tới.
Nhìn trở lại hành trình lịch sử của Hồ Chí Minh tìm đường cứu nước, quanh một vòng trái đất để trở về xúc động với nắm đất của Tổ quốc trên tay, rồi những lời "dặn lại công việc" với Võ Nguyên Giáp khi bị bệnh nặng sợ khó qua khỏi trong một lán nhỏ ở Tân Trào, Việt Bắc: "lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả giải Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập", cho đến khi đọc Tuyên Ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, v.v.. cho đến Di chúc với "điều mong muốn cuối cùng": "xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" càng hiểu rõ tầm nhìn và khát vọng của Hồ Chí Minh.
Trước hết, phải giành cho được độc lập. Nhưng độc lập chưa phải là cái đích cuối cùng, mà mới chỉ là điều kiện tiên quyết để thực hiện những mục tiêu khác của cách mạng, mà xét đến cùng là nhằm thực hiện "những quyền không ai có thể xâm phạm được" mà Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp nêu lên. Những vấn đề của "nhân quyền" và "dân quyền" là vấn đề chung của con người, của loài người, và "nhân quyền" cũng như "dân quyền" của Việt Nam cũng không nằm ngoài vấn đề chung đó, vì Việt Nam không phải là dân tộc ở "ngoài hành tinh" vừa nhập cuộc, Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của loài người, của thế giới mà loài người đang sống!
Tuy nhiên, " trong nhiều xã hội ngoài Châu Âu, thông điệp đấu tranh giai cấp nghe xuôi tai hơn thông điệp dân chủ; sự phê phán nhân quyền dễ trót lọt hơn ý tưởng về dân quyền. Và như vậy là vì những lý do lịch sử : ý tưởng về nhân quyền do bọn thực dân mang tới cho họ, áp đặt bằng nòng súng. Nhân quyền thuộc về kẻ chiến thắng, đương nhiên, trước mắt kẻ thua trận, đó là thứ ngụy trang cho sự thống trị thực dân"2. Tuy hiểu điều đó, nhưng Hồ Chí Minh vẫn khẳng định tư tưởng về nhân quyền trong Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 bởi vì : "ý tưởng xây dựng xã hội trên nền tảng quyền con người hoàn toàn không phải là một sự dối trá của giai cấp tư sản, mà thực sự là một ý tưởng phổ quát, thực sự đáp ứng một hy vọng toàn cầu. Sẽ không bao giờ có bình đẳng thật sự giữa tất cả mọi người, song ở chân trời của tất cả mọi người, bao giờ cũng sẽ có ý tưởng bình đẳng. Và ta sống với chính sự vẫy gọi đó.
Chính cái đó làm cho sự vật chuyển động"3. Để tạo ra một sự "chuyển động" đúng quy luật, ngay sau khi giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì". Giành độc lập đã khó, nhưng đem lại được dân chủ đích thực, tự do thật sự, hạnh phúc cụ thể cho mỗi người dân là chuyện khó hơn rất nhiều.
Chẳng thế mà cách nay không lâu, cựu tổng thống Nelson Mandela, vị anh hùng dân tộc của nhân dân Nam Phi, từng tuyên bố rất rõ ràng với đồng bào của ông trong một nước Nam Phi độc lập : "Chúng ta chưa có tự do. Chúng ta mới có điều kiện để đấu tranh giành tự do"!
Trong nội dung dân chủ của một thể chế cộng hòa, thì để cho độc lập có một ý nghĩa thiết thực, trực tiếp với cuộc sống hàng ngày của mỗi người dân khi mà về danh nghĩa, họ là người chủ của đất nước, thì quyền làm chủ ấy phải được thể chế hóa bằng pháp luật. Chỉ như thế thì dân mới có thể dựa vào đó để đấu tranh cho dân chủ và tự do, khiến cho nó không chỉ là những khẩu hiệu suông mà thể hiện trong thực tế, hiện diện trong cuộc sống thường nhật của họ.Có nhận thức như vậy mới hiểu tại sao ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ ngày 3.9.1945, Hồ Chí Minh khẳng định: "Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ"! Trong bộn bề những việc cấp bách hàng ngày với thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo Hiến pháp và cho ra đời bản Hiến pháp 1946 lịch sử!
Trong một cuộc họp gần đây của Hội đồng thẩm định về đề tài khoa học chuẩn bị cho việc sửa đổi Hiếp pháp do Văn phòng Quốc hội và Bộ Khoa học & Công nghệ tổ chức tại Hà Nội mà người viết bài này là một thành viên của Hội đồng, trong quá trình thảo luận, Bản Hiến pháp ấy được nhất trí đánh giá là bản Hiền pháp mẫu mực nhất. Có điều đó vì ở đây thể hiện rõ định hướng và tầm nhìn rất sáng tỏ của Hồ Chí Minh về hướng đi của nhà nước dân chủ cộng hòa non trẻ trong quỹ đạo phát triển của thế giới theo hướng đi của thời đại. Nghiêm chỉnh thực hiện nội dung của Hiến pháp 1946 chính là việc biến mục tiêu hướng tới độc lập, tự do, hạnh phúc mà dân chủ được ghi rõ ngay dưới tên nước, thành hiện thực! Nói cụ thể hơn, đó là điều kiện để thực hiện khát vọng ngàn đời của dân tộc ta.
Đương nhiện, việc tạo ra điều kiện rồi dựa vào điều kiện đã được tạo ra đó để biến khát vọng dân chủ và tự do thành hiện thực phải là một cuộc chiến đấu bền bỉ, gian khổ và không khoan nhượng ! Bởi lẽ "những gì đã cũ kỹ, hư hỏng" sẽ chống lại quyết liệt, và sẽ là lực cản ghê gớm cho sự xuất hiện "những cái mới mẻ, tốt tươi". Cho nên, dân chủ và tự do không thể là ân huệ được ban phát mà là phải đấu tranh để giành lấy. Đấu tranh với ai ? Với "những gì đã cũ kỹ, hư hỏng".
Đây cũng chính là căn bệnh trầm kha của quyền lực, cũng là căn bệnh của nhà nước trên toàn thế giới. Bằng sự trải nghiệm của mình từ thực tế của những năm sống trên đất nước Xô viết dưới thời Stalin, những hiểu biết về cuộc tranh giành quyền lực trên đất nước Trung Quốc, sự hiểu biết về nhiều nước phương Tây, Hồ Chí Minh đã nhận ra rằng "cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi " cho dân tộc mình, nhân dân mình sẽ là một "cuộc chiến đấu khổng lồ". Để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ ấy Hồ Chí Minh hiểu rõ cần "phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân"4.
Kỷ niệm quốc khánh năm nay, nhắc lại tư tưởng nổi bật trong "Tuyên ngôn Độc lập" để càng thấm thía hơn tầm nhìn của Hồ Chí Minh về hướng đi của thời đại, vạch ra con đường để dân tộc ta dấn bước theo đúng quỹ đạo phát triển của thế giới văn minh, do vậy mà càng vững tin vào sự vẫy gọi của chân lý, vì như đã dẫn ra ở trên: " chính cái đó làm cho sự vật chuyển động".
_________________
1. Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 1. NXBCTQG, Hà Nội 1995, tr.10
2 và 3. Francois Furet. "Số phận một ý tưởng" .Người đưa tin UNESCO. Hà Nội, 1989, số 6, tr.56.
4. Hồ Chí Minh Toàn tập Tập 12. NXBCTQG, HàNội 1996, tr. 505.
Tương Lai

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

Quyền lực của lòng tin

TT - Cứ mỗi mùa thu đến là chúng ta lại đếm thêm 1 tuổi cho nền cộng hòa đầu tiên của đất nước. 66 năm chưa phải là quá nhiều, nhưng cũng đủ để mỗi dịp kỷ niệm là một lần nhìn lại. Có thấy hết được sự thật lịch sử mới rút ra được những bài học để vững vàng bước tới.
Cuộc cách mạng mùa thu 66 năm trước có những hiện tượng rất lạ: chỉ trong mấy ngày, cách mạng thành công trên toàn đất nước. Nhìn trên bản đồ khởi nghĩa mới thấy thế trận của nhân dân đúng là như nước vỡ bờ, thành nọ nối tỉnh kia vùng dậy. Không có lực lượng vũ trang, không có đổ máu, chỉ có lòng yêu nước của người dân, cùng với khao khát độc lập, tự do, gặp được sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - đã làm nên thắng lợi.
Nguyên nhân của thắng lợi ấy đó là tấm lòng người dân yêu nước tin Đảng, tin vào uy tín của Hồ Chí Minh - người mà họ được biết chính là Nguyễn Ái Quốc, người đã chủ trương đại đoàn kết dân tộc - thành lập mặt trận Việt Minh - tập hợp tất cả lực lượng yêu nước vào một mối dù khác chính kiến, thành phần, giai cấp, tôn giáo, lứa tuổi...
Giành độc lập rồi, nhưng giữ được chính quyền trứng nước còn gian nan hơn: cả dân tộc vừa qua nạn đói khủng khiếp nhất lịch sử, 2 triệu người chết chỉ qua một vụ giáp hạt, ngân khố trống rỗng, mùa thu hoạch chưa đến, lũ to, đê vỡ, 90% dân số mù chữ...và nguy hiểm nhất là 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch lấy cớ giải giáp quân Nhật tràn qua biên giới và đội quân viễn chinh Pháp rập rình quay lại VN. Nước sôi lửa bỏng, giặc ngoài thù trong. Chúng ta vẫn giữ được chính quyền.
Hãy nhớ lại Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta làm gì trong những ngày ấy: xây dựng hiến pháp, quân đội, tập trung xóa nạn mù chữ, kêu gọi tuần lễ vàng, hũ gạo cứu đói..., thực hiện rất nhiều cuộc tiếp xúc ngoại giao khôn khéo để đuổi quân Tưởng ra khỏi đất nước và chuẩn bị lực lượng bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến.
Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, lùi một bước, chấp nhận cho Pháp vào VN để đuổi 20 vạn quân Tưởng về nước, có rất nhiều người phản đối quyết liệt, cho rằng hiệp định 6-3 là bán nước (!?). Võ Nguyên Giáp đã phải đi nói chuyện rất nhiều nơi để giải thích, phân tích tình hình, và chính Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đứng ra thề trước quốc dân đồng bào trong một cuộc mittinh ở Nhà hát lớn: “Hồ Chí Minh không bán nước!”.
Và người dân đã tin. Dân tin nên mới có chín năm kháng chiến và mới có chiến thắng Điện Biên Phủ, có mùa xuân 1975.
Lòng tin của người dân vào người lãnh đạo đã mang lại sức mạnh vô biên cho công cuộc giữ nước và dựng nước thời hiện đại. Lòng tin của người dân cũng mang đến cho VN một vị thế đường hoàng, vững chắc hơn trên thế giới.
Người dân tin vì lãnh tụ đã cho họ thấy cái tài và cái tâm của mình, đã chứng minh bằng cả cuộc đời mình một tấm lòng yêu nước không gợn chút riêng tư.
Dân tin vì họ nhìn thấy cái mà họ sẽ được khi đi theo Đảng: độc lập, tự do, cơm no, áo ấm...
Bài học của mùa thu cách mạng cho thấy cái chúng ta cần hôm nay chính là niềm tin của người dân. Dân chỉ có thể tin khi dân được biết và được hỏi ý kiến về những chuyện liên quan mật thiết đến cuộc sống hằng ngày của họ: từ chuyện chống tham nhũng đến chuyện cho nước ngoài thuê đất, thuê rừng, đến chuyện ngoài hải đảo xa xôi... Dân khó tin khi quan chức nói một đằng làm một nẻo, rất khó tin khi tham nhũng vẫn tràn lan... Lòng tin ấy, chính quyền cách mạng, với hạt nhân là Hồ Chí Minh, đã gây dựng được từ mùa thu năm ấy, giờ cần phải được tiếp tục nuôi dưỡng, vì mọi quyền lực chỉ thật sự tồn tại trên cơ sở lòng tin của người dân mà thôi.
 GS ĐINH XUÂN LÂM
THU HÀ ghi

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Nếu được giải thưởng, tôi không còn vui lắm

(TT&VH) - Nhạc sĩ Phạm Tuyên, 82 tuổi, đã trở thành tâm điểm của những thông tin đa chiều quanh đợt xét tặng danh hiệu Giải thưởng Nhà nước năm nay. Sau khi Bộ VH,TT&DL chính thức khẳng định ông xứng đáng được xét Giải thưởng Hồ Chí Minh, TT&VH đã có cuộc trò chuyện với ông về chặng đường sáng tác cũng như con đường đã đi qua của cuộc đời nghệ sĩ.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên chia sẻ:
- Việc thẩm định một tác phẩm nghệ thuật cần phải có thời gian. Sức sống của nó trong đời sống nhân dân chính là thước đo để tặng giải thưởng, chứ không phải là lá đơn xin! Tôi thấy Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh cứ 2 năm, 5 năm xét tặng một lần, liệu 2 năm, 5 năm đã là quãng thời gian đủ để thẩm định một tác phẩm âm nhạc hay chưa?
Giải thưởng không phải kết quả cuộc xin - cho!
* Thưa ông, những ngày qua, dư luận đã có những ồn ào quanh đề nghị của Hội Âm nhạc Hà Nội về việc đặc cách tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho ông. Ông nghĩ gì về điều này?
- Tôi có biết những điều đó. Tôi chỉ nghĩ, những thủ tục hành chính rắc rối của việc xét tặng giải thưởng không còn hợp thời nữa. Đã đến lúc hội đồng xét duyệt các cấp nên chú ý tìm hiểu tình hình thực tế để từ đó ghi nhận sự đóng góp của các tác phẩm nghệ thuật.
Cá nhân tôi sẽ không bao giờ làm đơn để xin giải thưởng. Những tác phẩm nghệ thuật đã có công chúng và thời gian làm công tác thẩm định.
Tôi còn nhớ, khi tôi sáng tác bài Như có Bác trong ngày vui đại thắng vào đêm 28/4/1975. Sáng sớm hôm sau tôi ra bờ Hồ đã thấy đài phát thanh phát ca khúc này. Tôi hết sức ngạc nhiên vì bài hát còn chưa đưa đi in. Các anh bên phát thanh có nói, ngay khi có tin chiến thắng, họ đã cho phổ biến ca khúc của tôi. Đến ngày 30/4/1975, hàng triệu người đã hát bài Như có Bác trong ngày vui đại thắng.
Trước sức lan tỏa của bài hát, nhiều người đã nói, có nên tặng thưởng Huân chương Lao động cho tôi không. Lúc ấy, chưa có tiền lệ tặng Huân chương Lao động cho một ca khúc vừa mới ra đời. 10 năm sau, năm 1985, anh Trần Lâm (khi đó là Giám đốc Đài Phát thanh) đã đề nghị Nhà nước tặng Huân chương Lao động cho ca khúc Như có Bác trong ngày vui đại thắng. May mắn lần ấy, đề nghị xét tặng vừa gửi đi đầu tuần, cuối tuần đã có kết quả. Ca khúc Như có Bác trong ngày vui đại thắng được tặng thưởng Huân chương Lao động.
* Những tranh cãi về Giải thưởng Hồ Chí Minh có khiến giải thưởng mất đi ít nhiều ý nghĩa đối với ông?
- Đúng như thế. Giải thưởng phải là sự ghi nhận, giải thưởng không thể là kết quả của một cuộc xin - cho.
Những tranh cãi, ầm ĩ quanh giải thưởng còn khiến cho giải thưởng bị mất uy tín.
* Giả sử, sau những tranh cãi ồn ào, ông sẽ được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm nay...?
- Tôi không còn vui lắm. Tôi không vui vì có thể khi trao giải cho tôi người ta đã nghĩ, thôi thì trao cho ông ấy cái giải để dư luận yên đi! Nhưng tôi tin, dư luận vẫn chưa yên đâu, đặc biệt là giới sáng tác...
Người ta đã quên tôi rồi
* Trước khi xảy ra những tranh cãi về Giải thưởng Hồ Chí Minh dành cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, được biết, ông đã từng có lần từ chối giải thưởng Nhà nước. Vì sao vậy?
- Tôi đã từng từ chối nhận giải thưởng Nhà nước đợt 1, từ rất lâu rồi. Nhưng sau đó, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm (khi đó là Bộ trưởng Bộ Văn hóa) đã động viên tôi đến nhận. Và tôi đã đến Bộ nhận giải thưởng chứ không đến lễ trao giải thưởng. Anh Nguyễn Khoa Điềm có nói với tôi, Giải thưởng Hồ Chí Minh còn nhiều đợt xét tặng, nhất định người ta sẽ nhớ đến anh.
Nhưng thực tế cho thấy, người ta đã quên tôi rồi (cười).
Tôi tin, khi Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, các anh ấy cũng không làm đơn xin đâu. Tác phẩm của người ta lớn như thế, cả nhân dân thừa nhận, cả nhân dân cùng hát, tại sao lại phải làm đơn xin?
* Theo ông, điều gì sẽ giữ gìn uy tín cho những giải thưởng danh giá này?
- Tầm vóc của giải thưởng phải phản ánh đúng tầm vóc của tác phẩm. Tác phẩm lớn lại phải do nhiều yếu tố quyết định.
Bây giờ, nếu công chúng yêu cầu tôi sáng tác một bài hát hay hơn Chiếc gậy Trường Sơn, hay hơn Như có Bác trong ngày vui đại thắng... Tôi có lẽ phải từ chối, bởi điều đó không đơn giản chút nào!
* Đã đứng bên kia sườn dốc của cuộc đời, đã đi qua những thăng trầm, sóng gió... sau một chặng đường dài. Điều ý nghĩa thực sự đối với ông bây giờ sẽ là gì?
- Ở tuổi của tôi, những hư danh, giải thưởng chẳng còn ý nghĩa nữa. Tôi chỉ suy nghĩ, quỹ thời gian của tôi không còn nhiều trong khi tôi có rất nhiều việc muốn làm. Tôi muốn dành thời gian sáng tác nhiều hơn nữa những ca khúc cho thiếu nhi. Đời sống tinh thần của các em đang nghèo nàn quá.
Vi Tú (thực hiện)