Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

“Dân làm báo”, “Quan làm báo”,”Biển Đông”…đăng tải thông tin chống Đảng và Nhà nước

Điều tra, xử lý nghiêm việc đăng tải thông tin chống Đảng và Nhà nước


(Chinh phu.vn) – Ngày 12/9, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xử lý việc đăng tải thông tin có nội dung chống Đảng và Nhà nước.
Qua xem xét các báo cáo số: 277/BC-BCA-A61 ngày 15/6/2012, số 335/BC-BCA-A61 ngày 09/7/2012 của Bộ Công an; công văn số 78/BTTTT-PTTH&TTĐT ngày 29/6/2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông; công văn số 2794-CV/BTGTW ngày 19/7/2012 của Ban Tuyên giáo Trung ương và báo cáo số 172-BC/VPTW ngày 07/9/2012 của Văn Phòng Trung ương Đảng về tình trạng một số trang thông tin điện tử như: “Dân làm báo”, “Quan làm báo”,”Biển Đông”… và một số trang mạng khác, đã đăng tải thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội. Đây là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo điều tra, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các cơ quan cung cấp thông tin khách quan, đúng sự thật về tình hình các mặt của đất nước ta, nhất là các vấn đề mà dư luận quan tâm; chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan xử lý nghiêm việc thông tin, tuyên truyền không đúng sự thật. Khẩn trương trình Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.
Báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường cung cấp thông tin kịp thời, chính xác và chủ động phản bác các thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, chống Đảng và Nhà nước.
Các Bộ, ngành, các địa phương lãnh đạo cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến các thông tin đăng tải trên các mạng phản động.

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

"Dân chủ đưa Đảng vào lòng dân tộc"

Hầu chuyện Trần Xuân Bách:
“Dân chủ đưa Đảng vào lòng dân tộc”
 
Tống Văn Công
 
Cuối tháng 9 năm 1989, tôi từ Sài Gòn ra, vừa đến trụ sở báo Lao Động (51 – Hàng Bồ, Hà Nội) thì cô Phạm Thị Châu, trưởng phòng hành chính đến gặp. (Cô Châu hiện nay là cán bộ báo Dân Trí.) Cô trao tấm danh thiếp của anh Trần Xuân Bách gửi cho tôi và háo hức kể: Xe đỗ trước cơ quan, bác ấy đi vào, nói “Tôi xin gặp anh Tống Văn Công”. Em trả lời: “Thưa bác, anh Công về Sài Gòn. Hiện đang có mặt hai phó tổng biên tập là anh Huy Đan và Phạm Văn Nhàn. Bác có thể gặp anh nào ạ?”.  Bác ấy mở cặp lấy cac vi dít đưa cho em, nói: “Khi nào anh Công ra, đồng chí đưa giùm tôi nhé, nói là tôi đang đợi anh ấy gọi”. Từ lâu tôi đã được ba người bạn có dịp gần gũi anh Trần Xuân Bách là nhà văn Nguyễn Khải gần anh khi còn làm báo quân khu 3 thời chống Pháp, dịch giả Lê Minh Đức gần anh ở Ban Dân vận TƯ và  Đinh Gia Bảy ủy viên Đảng đoàn, ủy viên Ban thư ký Tổng Liên đoàn Lao động VN từng làm việc dưới quyền của anh Bách lúc giúp bạn ở Campuchia, kể  nhiều chuyện về anh Bách, một người tài đức song toàn. Tôi cũng được đọc nhiều bài viết của anh, rất hâm mộ, nhưng chưa có dịp gặp, không ngờ tôi lại được anh tìm! Trước khi vào Sài Gòn, tôi đã dự hội nghị nghiên cứu Nghị quyết Trung ương lần thứ 7 (khóa 6), nên cảm nhận việc anh Trần Xuân Bách đến tìm là điều quan trọng.
Xin nhắc lại một số kết luận của Nghi Quyết TƯ 7:
Về tình hình thế giới:
“Công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới ở một số nước xã hội chủ nghĩa đã thu được những thành tựu nhất định, nhưng ở một số nước gặp khó khăn gay gắt, có nước chủ nghĩa xã hội đang đứng trước thách chức lớn. Lợi dụng tình hình khó khăn trên đây ở một số nước xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ mở cuộc phản kích quyết liệt vào chủ nghĩa xã hội, bằng những thủ đoạn rất xảo quyệt: Răn đe về quân sự; cổ vũ chủ nghĩa đa nguyên chính trị; dùng kinh tế khuyến khích việc cải cách theo hướng phát triển kinh tế tư nhân, thị trường tự do tư bản chủ nghĩa.”
“Trong nước…những khó khăn về kinh tế và xã hội đã và đang bắt đầu xuất hiện ở nước ta, trong đó đặc biệt nhấn mạnh: Các lực lượng bên ngoài đang tập trung đả kích, xuyên tạc Đảng ta không mạnh dạn cải cách chính trị, hạn chế dân chủ, hạn chế tự do báo chí, tự do sáng tác, phê bình”.
Trong bốn khuyết điểm dẫn đến tình hình trên, có: “Buông lỏng công tác tư tưởng, thiếu tinh thần chiến đấu chống những tư tưởng, quan điểm lệch lạc, những hành động và lời nói sai trái.”
Nghị quyết nhấn mạnh những nguyên tắc và chính sách: “Xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị”…
Như vậy, anh Trần Xuân Bách đang là nhân vật có “vấn đề”!
Sau khi cô Châu rời khỏi phòng, tôi gọi điện thoại ngay cho anh Trần Xuân Bách. Giọng anh rất vui: “Bảy giờ tối, tôi đợi anh nhé!”. Tôi đáp: “Tôi muốn cùng anh Phạm Văn Nhàn phó tổng biên tâp đến thăm anh?” Anh Bách rất vui vẻ: “Ồ, càng nhiều anh em càng vui!”
Tôi không muốn một mình đến anh Bách vì đã có kinh nghiệm qua việc nhà văn Nguyên Ngọc gửi bài cho báo, tôi chưa đọc, nhưng cơ quan an ninh đã cử cán bộ đến yêu cầu được đọc trước! Tôi kể chuyện này với phó Tổng biên tập Phạm Văn Nhàn. (Hiện nay, anh Nhàn ở khu nhà tập thể báo Lao Động, quận Cầu Giấy.) Anh Nhàn nói: “Anh ấy bảo càng nhiều anh em càng vui, vậy ta rủ thêm Lưu Văn Hân, vì Hân quen thân với bên vợ anh Bách”. Tôi gọi điện rủ, anh Hân rất vui vẻ nhận lời. (Anh Lưu Văn Hân lúc ấy là vụ trưởng Vụ báo chí, Bộ Văn hóa – Thông tin, anh Trần Hoàn là Bộ trưởng.)
Ba chúng tôi đến biệt thự của anh Bách trên đường Phan Đình Phùng bằng chiếc u-oat cùa báo Lao Động do tài xế cựu chiến binh Nguyễn Văn Tiến lái. Có vài người mặc thường phục đứng trên vỉa hè dòm ngó. Tôi báo với người bảo vệ là chúng tôi được anh Bách hẹn. Anh bảo vệ gọi điện thoại vào nhà xin ý kiến. Tôi cứ tưởng anh Bách sẽ cho người giúp việc ra đón chúng tôi, không ngờ anh đích thân chạy ra cổng. Tôi nói, “Chúng tôi đến quá một người!” Anh Bách cười vui “Cám ơn các anh, tôi rất vui !” Anh đưa chúng tôi lên lầu. Chị Bách chờ sẵn, mời chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn kê sát tường. Chị pha cà phê, gọt táo và cùng ngồi với chồng tiếp khách. Thấy bên cạnh tấm lịch treo tường có kẹp bài thơ, ký Bách Xuân, tôi hỏi đùa: “Muốn xin anh bài thơ này đăng trang văn nghệ của báo?”. Anh nhìn chị, cười đáp: “Thơ mình chỉ dành riêng cho mộĩ bạn đọc này thôi.” Có lẽ, chị Bách nghĩ rằng mấy ông khách thấy chị quá trẻ so với anh, nên đã vui vẻ kể: “Hồi em mới lấy anh ấy, các bạn cứ trêu, sao lấy ông chồng quá đát vậy? Em trả lời, nhưng tâm hồn anh ấy rất trẻ!”. Sau mấy chuyện vui, tôi kể cho anh Bách nghe về lớp nghiên cứu Nghị quyết TƯ 7 của cán bộ cốt cán toàn quốc trước đây hơn một tuần. Anh Bách nghe rất chăm chú.
Lớp nghiên cứu này do ông Đào Duy Tùng Ủy viên Bộ chính trị phụ trách khối tư tưởng văn hóa thuyết trình. Ông nghe phản ánh ý kiến học viên ở các tổ thảo luận, tổng kết đợt học và giải đáp thắc mắc. Sau khi nghe ông Tùng giảng ở hội trường, Ban Tổ chức lớp học chia học viên theo ngành công tác vào các tổ thảo luận. Tôi dự thảo luận ở tổ báo chí, gồm các tổng biên tập, báo, chí, đài, nhà xuất bản ở Trung ương. (Có lẽ các tổ viên ngày ấy chỉ mỗi nhà thơ Hữu Thỉnh còn có mặt trong guồng máy hiện hành.) Tổ trưởng hướng dẫn thảo luận là anh Thái Ninh, phó trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương. (Đến Đại hội 7, anh Thái Ninh là Trưởng ban TTVH TƯ, anh Hữu Thọ là Phó trưởng ban thường trực). Khi thảo luận câu hỏi “Vì sao Đảng ta không chấp nhận đa nguyên chính trị?”, anh Bùi Tín, phó Tổng biên tập báo Nhân Dân xin phát biểu. Bùi Tín cho biết, anh rất lúng túng khi bị nhiều đồng chí đảng viên các đảng bạn ở phương Tây hỏi vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam lại không chấp nhận đa nguyên. Theo Bùi Tín, bản chất cuộc sống là đa nguyên, thực tế Việt Nam cũng đang có những yếu tố đa nguyên: Bên cạnh Đảng Cộng sản có Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội; Mặt trận Tổ quốc gồm có nhiều tổ chức Nông dân, Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ…Mỗi giới có tờ báo nói tiếng nói của mình. Phải đa nguyên mới thực sự dân chủ… Anh Bùi Tín nói hơn 30 phút. Cả tổ im lặng lắng nghe. Tổ trưởng Thái Ninh ghi ghi chép chép, không tỏ ra sốt ruột. Không ngờ hôm sau, khi tổng kết và trả lời thắc mắc, ông Đào Duy Tùng đã gay gắt phê phán: “Thật đáng chê trách, tại hội nghị này, gồm những cán bộ tuyên huấn cốt cán của Đảng, lại có một đồng chí nồng nhiệt cổ vũ đa nguyên chính trị! Đồng chí đó không biết rằng, đa nguyên là luận điệu mị dân của các chính trị gia tư sản ?  Bọn chúng gồm những tập đoàn tài phiệt, cần có đa nguyên để cạnh tranh với nhau. Giai cấp công nhân có sứ mệnh độc quyền lãnh đạo cách mạng, chỉ cần liên minh chiến lược với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức cách mạng. Chủ nghĩa xã hội thực hiện tập trung dân chủ, phải chống đa nguyên. Hôm nay đòi đa nguyên, rồi ngày mai sẽ đòi đa đảng, phải không?”
Anh Bách trầm ngâm, rồi nói: “Chúng ta đã thực hiện đa nguyên kinh tế, vậy phải thực hiện đa nguyên chinh trị, bước tới bằng hai chân mới cân bằng, không bị vấp váp”. Anh hỏi thêm về Bùi Tín, nhưng tôi chỉ gặp anh Bùi Tín hai lần mà cả hai lần đều cùng là khách được mời ăn cơm. Lần đầu tháng 5-1975, ở Sài Gòn anh Phước Sanh mời; lần thứ hai ở Hà Nội, nhà thơ Hải Như mời Bùi Tín, bác sĩ Vân B và tôi, chỉ ít lâu trước khi anh Bùi Tín đi họp báo Nhân Đạo và ở lại Pháp. Lúc ông Đào Duy Tùng chì chiết, tôi ngồi ở hàng ghế ngay sau lưng anh. Anh hai tay chống cằm, mớ tóc dài rũ xuống hai vai.
Hơn 10 giờ khuya, anh Bách tiễn chúng tôi ra tận cổng. Trước khi chia tay, tôi đề nghị: Bất cứ lúc nào, anh rảnh, tôi xin mời anh đến nơi tôi ở, số 14 Trần Bình Trọng, đối diện với Bộ công an. Tôi muốn được anh giải đáp cho một số câu hỏi. Và tôi gợi ý: Anh nên cho dừng xe ở Nguyễn Du, rồi đi bộ vào cổng, tôi sẽ đón bên trong. Kể ra cũng buồn cười, đón ông ủy viên Bộ chính trị mà phải lén lút như quan hệ với kẻ gian! Hồi đó, tôi vẫn nghĩ nơi ở của mình kín đáo lắm, nên đã từng tiếp đón nhiều bạn bè có lý lịch mà phía an ninh coi là không được trong sáng như Nguyễn Kiến Giang, Lê Đạt, Dương Tường, Phạm Thị Hoài…Mãi sau này, tôi mới biết là mọi việc xảy ra ở báo Lao Động đều có trong hồ sơ của cơ quan an ninh! Biết đâu chuyện tôi sắp kể ra đây cũng không phải là ngoại lệ!
Chỉ vài hôm sau, anh Bách hẹn đến, từ hôm đó tôi may mắn được hầu chuyện anh. Tôi đã đặt những câu hỏi với tư cách một nhà báo cách mạng mong muốn tìm thấy lộ trình đi tới tự do dân chủ cho dân tộc. Rất tiếc vì nhiều lý do, ý kiến tâm huyết của anh, một nhà cách mạng, một trí thức lớn nhất của Đảng Cộng sản VN mà tôi ghi chép nhiều buổi, đã không thể phổ biến đúng lúc. Lý do là vì nền “báo chí nói tiếng nói của Đảng” không cho phép, nhưng lý do chính mà tôi phải nhận là bởi sự hèn kém của mình. Trong phần hồi ức này, tôi xin ghi lại một số câu hỏi và giải đáp của anh không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà vẫn đang còn nguyên giá trị thời sự trong tình hình hiểm nghèo của đất nước trước họa ngoại xâm, và nội xâm, đang rất cần dân chủ hóa để tăng nội lực của dân tộc. Và đây cũng là món nợ ân tình đối với anh, nhiều năm nay lòng tôi luôn bứt rứt. 
HỎI: Tháng 6-1988, Nghị quyết TƯ 5 cho rằng khuyết điểm nghiêm trọng nhất trong công tác xây dựng Đảng là “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ”. Nghị quyết cho rằng “mở rộng dân chủ, đi đôi với tăng cường kỷ luật”, và phải “chống những mưu đồ lợi dụng dân chủ và công khai để chống lại sự nghiệp của Đảng và nhân dân”. Đến tháng 3-1989, Nghị quyết TƯ 6 nhắc lại phải “mở rộng dân chủ”, “dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật”. Tháng 8-1989, Nghị quyết TƯ 7 kết luận: “Xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị”.
Những kết luận nói trên, cho thấy “dân chủ” như một khái niệm rất mơ hồ, có thể thu hẹp lại, hoặc mở rộng ra. Nhưng mở rộng ra thì phải kèm với “tập trung”, với “kỷ luật”, nếu không thì sẽ xảy ra tình trạng vô chính phủ, hoặc bị bọn phản động có “mưu đồ lợi dụng dân chủ, công khai, chống lại sự nghiệp của Đảng và nhân dân”?
ĐÁP: Dân chủ không hề có chỗ cho thứ tự do vô chính phủ nảy nở. Chế độ dân chủ thiết lập trên cơ sở một bản Hiến pháp được xây dựng từ ý chí tự do của nhân dân lựa chọn hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa . Hiến pháp quy định thể thức bảo đảm tổng tuyển cử tự do, không phân biệt khuynh hướng chính trị, quy định cách thức hoạt động của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, bảo đảm các quyền tự do của con người và sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu Tuyên ngôn độc lập nước ta, đã nhắc lại Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, nói đến các quyền tự do của con người mà “Tạo hóa cho họ”. Dân chủ là thể chế hóa các quyền tự do ấy. Cho nên dân chủ là quyền lực của dân, với tư cách là con người tự do. Dân chủ không phải do lòng tốt của những người lãnh đạo muốn ban ơn cho dân, thấy thuận lợi thì mở rộng, thấy bất tiện thì thu hẹp .
Đại hội 6 kết luận “lấy dân làm gốc”. Dân chủ sẽ khơi động trí tuệ toàn dân tộc, “gốc” sẽ ngày càng vững mạnh, ngăn chặn quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm. Chế độ dân chủ không có chỗ cho những ai muốn lợi dụng, bè phái. Chỉ có chế độ độc đoán, quan liêu, khép kín mới là đất tốt cho những kẻ xấu lạm dụng quyền lực làm những điều phi pháp.
HỎI: Chế độ dân chủ như vừa miêu tả ở trên có trái với “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà Nghị quyết TƯ 7 kêu gọi xây dựng và phát huy?
ĐÁP: Chúng ta đã chọn mô hình giáo điều, lai ghép chủ nghĩa xã hội Stalin với chủ nghĩa xã hội Mao Trạch Đông. Liên Xô và các nước Đông Âu đang lâm vào khủng hoảng bởi mô hình Stalin, vi phạm dân chủ, duy ý chí, quan liêu, đặc quyền, đặc lợi. Thế giới xã hội chủ nghĩa phải cải tổ, đổi mới, giải quyết những mâu thuẫn, phá vỡ cái cũ, đạt tới các tiêu chí của thời đại là: dân chủ, khoa học, nhân đạo, hiện đại. Xu thế chủ yếu là chuyển sang sở hữu tư nhân, kinh tế hàng hóa, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự.
Chúng ta đã đổi mới kinh tế, thực hiện sở hữu tư nhân, kinh tế thị trường. Đã đến lúc phải đổi mới chính trị, dân chủ hóa xã hội, từng bước thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà Marx và Engels đã đề ra trong Tuyên ngôn Cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.
Không đổi mới chính trị nhịp nhàng với đổi mới kinh tế thì đến một lúc nào đó sự phát triển kinh tế cũng sẽ bị chựng lại, bởi những rào cản quan liêu, tham nhũng, hạn chế sáng kiến. Đổi mới kinh tế là thực hiện đa nguyên kinh tế; kinh tế nhiều thành phần sẽ làm cho xã hội có sự phân tầng; mỗi giai tầng có quyền lợi, nguyện vọng khác nhau, từ đó nảy sinh đa nguyên chính trị. Đổi mới chính trị là từng bước chấp nhận đa nguyên chính trị song song với đa nguyên kinh tế, đúng như Marx, Engels: “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”. (Lời tựa cho Tuyên ngôn của ĐCS bản tiếng Đức, 28-6-1883).
Từ một xã hội khép kín, một quốc gia đóng cửa, chúng ta khởi xướng đổi mới, mở cửa, làm bạn với tất cả các nước. Vậy thì trong nước cũng phải là một xã hội mở, chấp nhận tự do báo chí, tự do ngôn luận, nhiều tiếng nói có quan điểm khác biệt đối thoại, thương thảo, quyết định thuộc về đa số, nhưng thiểu số được tôn trọng và bảo vệ. Nhà nước bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người và quyền công dân theo Hiến pháp, không được ban hành luật lệ vi hiến để hạn chế các quyền ấy. Đảng lãnh đạo, cầm quyền, nhưng quyền lực thuộc về nhân dân. Do đó, Đảng phải nằm trong chứ không nằm ngoài và không được đứng trên xã hội. 
HỎI: Chúng ta có sợ đa nguyên chính trị sẽ làm suy yếu Đảng Cộng sản Việt Nam và cuối cùng làm mất quyền lãnh đạo? Bởi vì chấp nhận đa nguyên chính trị thì phải thực hiện các quyền tự do, trong đó có quyền lập hội, từ đó xuất hiện Đảng đối lập có cương lĩnh cạnh tranh với Đảng Cộng sản?
ĐÁP: Đó chính là sự ngộ nhận của những ai có thói quen độc quyền chân lý, theo chủ nghĩa giáo điều. Xu thế thời đại là tự do, dân chủ. Cách mạng khoa học kỹ thuật, bùng nổ thông tin, giao lưu quốc tế làm cho xu thế đó chuyển động rất nhanh chóng và có tính dây chuyền. Không ai có thể bưng bít thông tin, ngoảnh mặt trước đòi hỏi của nhân dân, ngăn chặn sự vận động tất yếu của cuộc sống. Bản chất của cuộc sống là đa nguyên. Đổi mới chính là thuận theo bản chất cuộc sống xã hội vốn mang tính đa nguyên cả về kinh tế, chính trị, văn hóa. Trên kia đã nói, Đảng nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên xã hội, có nghĩa là thế nào? Đổi mới chính trị, trước hết Đảng phải tự đổi mới mình, phải trở thành Đảng dân tộc, kết tinh truyền thống dân tộc và trí tuệ thời đại. Đảng phải thực hiện dân chủ mạnh mẽ từ trên xuống dưới, từ Bộ chính trị trở đi.
Đảng không bao biện lấn sân làm thay nhà nước, không duy trì chế độ “đảng trị”, “toàn trị”. Nhà nước là công cụ của dân, chứ không phải là công cụ của Đảng, không phải cấp trên của dân. Nhà nước quản lý theo luật và bằng chính sách chứ không làm thay doanh nghiệp. Kế hoạch nhà nước nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên thị trường. Ngược lại, nếu duy trì tình trạng như hiện nay thì không phải làm cho Đảng, cho Nhà nước vững mạnh mà là tạo môi trường xã hội dung dưỡng độc đoán, lạm quyền, tham nhũng làm thoái hóa Đảng và mục ruỗng Nhà nước.
Kinh tế thị trường đòi hỏi phải có Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Trong Hệ tư tưởng Đức, Marx và Engels cho rằng “Hình thức thương mại, bởi lực lượng sản xuất đang có quyết định ở một giai đoạn lịch sử và trở lại quyết định lực lượng sản xuất, đó là xã hội dân sự” và “Xã hội dân sự bao gồm toàn bộ thương mại vật chất của các cá nhân ở một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất.” Hai ông cho rằng, xã hội dân sự tồn tại ở mọi thời đại với tư cách tổ chức xả hội trực tiếp bắt nguồn từ sản xuất và thương mại, đồng thời tạo thành nền tảng của nhà nước và mọi kiến trúc thượng tầng tinh thần khác. Các chế độ độc tài, phát xít Hitler, Mussolini thực hiện chế độ toàn trị, xóa bỏ xã hội dân sự đã bị thất bại. Mô hình xô viết Stalin cũng xóa bỏ xã hội dân sự là nguyên nhân đưa tới quan liêu hóa, khủng hoảng xã hội. Tình trạng đó chúng ta phải khắc phục. Nhiều năm qua các đoàn thể quần chúng đều bị chính trị hóa, hành chính hóa, không đại diện quyền lợi cho đoàn viên, hội viên, hạn chế sáng kiến của họ, quan trọng hơn là triệt tiêu sự góp ý thẳng thắn của họ đối với đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước. Thực hiện quyền tự do lập các hội, đoàn, các câu lạc bộ, hoạt động theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân, tương ái, tự trang trải về tài chính, đó là chẳng những đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng mà còn khôi phục xã hội dân sự, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, làm lành mạnh kinh tế thị trường.
Trong môi trường dân chủ, thượng tôn pháp luật, Đảng Cộng sản VN, cũng như mọi tổ chức và cá nhân có điều kiện để phát triển lành mạnh. Đảng Cộng sản VN có một quá trình lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, khởi xướng đổi mới, nay lại mạnh mẽ tự đổi mới mình để trở thành Đảng của dân tộc, không dùng quyền lực thay cho năng lực, trí tuệ. Dân chủ đưa Đảng vào lòng dân tộc. Liệu có Đảng đối lập nào đưa ra cương lĩnh trái với lợi ích dân tộc mà giành được lòng dân đối với Đảng Cộng sản? Chỉ có làm ngược lại, không chịu đổi mới chính trị, cố giữ thể chế độc quyền, trong khi xã hôị đã chuyển sang đa nguyên về kinh tế, đa nguyên thành phần xã hội, đa nguyên tư tưởng, văn hóa thì như vậy không khác nào đặt Đảng trong tình thế của một cây cổ thụ đứng đơn độc trước bão tố!
HỎI: Có nên duy trì cách chỉ đạo báo chí của Ban Tư tưởng -Văn Hóa TƯ Đảng như hiện nay? Thực dân Pháp đã từng chấp nhận quyền tự do báo chí đối với nhân dân nước Việt Nam thuộc địa. Chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có hai lần thực hiện tự do báo chí, lần đầu sau Cách mạng tháng Tám cho đến toàn quốc kháng chiến, lần thứ hai sau 30-4-1975 với báo tư nhân Tin Sáng cho đến tháng 6 năm 1981. Cả 2 lần ấy, báo chí tư nhân đều có những đóng góp rất tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Đổi mới chính trị, phải chăng đã đến lúc chuyển tự do báo chí từ quyền “tự do của tập thể” sang quyền “tự do của mỗi người” như Marx, Engels nói, như Nguyễn Ái Quốc đòi hỏi? Trong sách Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc viết: “Tôi gọi báo tức là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như chúng ta đã thấy ở châu Âu và các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ báo do chính quyền lập ra”. Tại sao chúng ta không thực hiện ước nguyện của Hồ Chí Minh từ năm 1919 về quyền tự do báo chí trong bản yêu sách gửi Hội nghị Hòa bình Versailles?
ĐÁP: Ngày 24 tháng 9 năm 1982, Việt Nam đã ký kết gia nhập Công ước về các quyền dân sự và chính trị. Công ước này có quy định quyền tự do ngôn luận: Mọi người có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp; được tự do ngôn luận bao gồm tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến bằng các hình thức tuyên truyền miệng, viết ra, in, tự do sáng tạo các hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng…
Công ước đòi hỏi các quốc gia thành viên cam kết không hạn chế hoặc hủy bỏ những quyền tự do có tính phổ biến của nhân loại đã được quy định ở đây. Nhà nước ta sẽ phải sớm sửa đổi luật báo chí, luật lập hội, thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội như các quốc gia dân chủ trên thế giới.
Cuối năm 1989 anh Trần Xuân Bách có bài phát biểu “Chủ nghĩa xã hội thật sự là gì?”. Nội dung bài ấy tương tự những điều anh trả lời trên đây. Nhiều người cho rằng anh Trần Xuân Bách chưa bao giờ nói đến “đa đảng”. Thật ra chấp nhận đa nguyên chính trị tức là chấp nhận sự có mặt của các tầng lớp, các nhóm có lợi ích khác nhau, có quan điểm chính trị khác nhau, cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh. Chấp nhận đa nguyên chính trị tức là đã chấp nhận đa đảng sẽ diễn ra ngay sau đó.
Dịp Tết 1990, vài tháng trước khi bị kỷ luật ra khỏi Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng, anh Trần Xuân Bách có sáng tác bài thơ sau đây. 
 BÀI THƠ KHAI BÚT 1990
 
Ngày xuân nhớ cụ Tú Xương,
Cố nhân chính trực, đồng hương nghĩa tình.
 
Lẳng lặng mà nghe tiếng nói dân.
Lấy dân làm gốc phải nghe dân.
Trí khôn thiên hạ không hề thiếu.
Chỉ sợ người ngu thích kẻ đần.
Nhà thơ Hải Như đề nghị thay chữ “mình” cho chữ “người” ở câu cuối. Anh Bách tiếp thu nhưng bảo, lấy làm tiếc vì đã phổ biến cho nhiều bạn bè.
Chiều thứ 5, ngày 22 tháng 3 năm 1990, anh Bách gọi điện bảo tôi, 7 giờ tối đến nhà anh, có chuyện rất cần biết. Cả ba anh em, Lưu Văn Hân, Phạm Văn Nhàn và tôi cùng đến. Trên lề đường trước nhà anh có nhiều người mặc thường phục đứng trên vỉa hè săm soi số xe. Anh Bách vẫn ra tận cổng đón chúng tôi. Chị Thịnh vẫn vui vẻ pha ca phê, gọt táo mời bạn bè. Anh Bách kể chuyện Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khai mạc từ ngày 12-3. Anh đã bị phê phán rất dữ dội. Anh cho rằng, mình chắc chắn sẽ bị đưa ra khỏi Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ương, thậm chí có ý kiến đòi khai trừ anh ra khỏi Đảng. Tôi tỏ ý băn khoăn, chẳng lẽ lại có thể xảy ra điều tồi tệ đến mức ấy, hoàn toàn trái với tinh thần đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật của Đại hội 6? Anh Bách kể:
Một đồng chí trong Bộ chính trị cho rằng, việc làm của đồng chí Trần Xuân Bách đã khiến cho đồng chí, bạn bè hết sức lo âu, còn kẻ thù thì vô cùng mừng rỡ”. Một người đã bị nhận xét tới mức đó thì làm sao có thể còn trong Bộ chính trị, Ban chấp hành TƯ?”. Anh Bách cho biết nhận xét đó không phải là ý kiến cá biệt, quan trọng hơn, đó là quan điểm của tổng bí thư Nguyễn văn Linh. Chỉ có hai ủy viên Bộ chính trị, Nguyễn Cơ Thạch và Võ văn Kiệt cho rằng, từ quan điểm “lấy dân làm gốc”, anh Bách muốn công cuộc đổi mới phải “đi hai chân” để đất nước phát triển và Đảng vững mạnh.
Hôm ấy, chia tay anh chị, chúng tôi buồn rười rượi, dù anh động viên: “Cho dù sắp tới sự nghiệp đổi mới có bị khó khăn hơn. Tuy nhiên, cái gì thuộc về quy luật, xu thế thì nó vẫn cứ đi tới, dù có chậm lại”.
Ngày 27-3-1990 Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa 6, thông qua Nghị quyết có những nội dung quan trọng như sau:
“Nghị quyết đã chỉ ra tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa đối với nước ta, trước hết là về các mặt chính trị, tư tưởng: Một số người hoài nghi chủ nghĩa xã hội, giảm lòng tin đối với Đảng và nhà nước; một số cán bộ, đảng viên tiếp nhận những tư tưởng, quan điểm sai lầm về cải tổ, cải cách của nước ngoài một cách máy móc, giáo điều; một số ít phần tử cơ hội bất mãn đang đẩy mạnh hoạt động chống lại sự lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa Đảng, đòi dân chủ không giới hạn…”
“Hội nghị nhận định: Đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đang coi nước ta là một trọng điểm chống phá, ráo riết thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình bằng những thủ đoạn kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và quân sự rất thâm độc. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa hai con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa ta và địch trên phạm vi thế giới, ở nước ta và ba nước Đông Dương đang diễn ra gay gắt, quyết liệt và phức tạp”…
“Việc Bộ chính trị và Ban Bí thư tự phê bình và Trung ương góp ý kiến phê bình Bộ Chính trị, Ban Bí thư được tiến hành một cách nghiêm túc, dân chủ, thẳng thắn, chân thành và thân ái, với tinh thần trách nhiệm và xây dựng, đã góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Trung ương.”
“Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa 6 đã quyết định cách chức Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng đối với đồng chí Trần Xuân Bách vì đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và kỷ luật của Đảng, gây ra nhiều hậu quả xấu”.
Sau khi anh Bách bị cách chức, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch xin nhận anh về làm cán bộ nghiên cứu của Bộ Ngoại giao. Nhưng lúc này chính cái ghế của Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng đang lung lay. Cũng như Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch hiểu rất rõ nguyên nhân suy sụp của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, trái với xu thế thời đại. Nguyễn Cơ Thạch có quan điểm, về đối nội phải dân chủ hóa xã hội, đối ngoại cần mau chóng quan hệ bình thường với Hoa Kỳ và thế giới dân chủ. Trong khi đó, Tổng bí thư Nguyễn văn Linh và nhiều người trong Bộ chính trị cho rằng phe xã hội chủ nghĩa suy sụp là do các thế lực thù địch đứng đầu là đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại. Do đó, để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng phải cầu hòa với Trung Quốc. Trung Quốc dù có tư tưởng bành trướng thì cũng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa anh em. Để lấy lòng Bắc Kinh, Bộ chính trị đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh loại bỏ Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch một cách vô nguyên tắc, không cho tham gia đoàn cấp cao đi Thành Đô. Sau khi Nguyễn Cơ Thạch bị loại, anh Bách cũng xin nghỉ việc.
Anh Trần Xuân Bách bị kỷ luật ít lâu thì phó TBT báo Nhân Dân Bùi Tín nhân được cử đi dự họp báo Nhân Đạo, đã trả lời phỏng vấn đài BBC về dân chủ hóa, bị báo Nhân Dân thi hành kỷ luật, và xin tị nạn chính trị tại Pháp. Trong bài “Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải” tôi có tỏ ý tiếc “Phải chi anh Bùi Tín tiếp tục nói ở trong nước, dù lời lẽ có nhẹ hơn đôi chút vẫn dễ được đồng bào lắng nghe”. Thời gian trước và sau đó, ở trong nước, có nhiều tác giả với lời lẽ chân thành, thẳng thắn với tư thế của người vừa là nạn nhân vừa là tội đồ, như Nguyễn Kiến Giang (Các tiểu luận: Khủng hoảng và lối ra, Từ duy tân đến đổi mới, Chủ nghĩa Mác – Lê nin còn lại những gì ; Tìm hiểu khái niệm công dân, vv…); Trần Độ với Nhật ký rồng rắn, Nguyễn Hộ với Quan điểm và Cuộc sống... Những bài viết ấy được đảng viên, cán bộ và nhân dân tìm đọc, làm cho những người lãnh đạo bảo thủ lúng túng.
Sau 20 năm nhìn lại, so sánh kết luận của Nghị quyết TƯ 8 (khóa 6) và ý kiến Trần Xuân Bách với thực tế đã diễn ra trên thế giới và trong nước, sẽ không khó đánh giá bên nào đúng bên nào sai.
Tình hình thế giới:
Do duy trì quá lâu mô hình xô viết cho đến ngày sụp đổ đã khiến cho nhân dân các nước Nga và Đông Âu cạn niềm tin đối với các Đảng Cộng sản và cánh tả. Ở Liên bang Nga, suốt 20 năm qua, Đảng cộng sản, tổng bí thư G. Zyuganov chỉ giành được tối đa khoảng 20% số phiếu trong các cuộc bầu cử. Trong khi đó, Đảng nhân dân Campuchia khi chấp nhận “cuộc chơi” đa đảng đã bị “lép vế”, nhưng nhờ giương cao ngọn cờ dân tộc, nay đã giành được thế thượng phong trên chính trường đất nước. Hiện nay, đợt sóng dân chủ lần thứ 4 đang cuộn cuộn, nước Miama gần sát Việt Nam đã chuyển từ quân phiệt sang dân chủ.
Sau 20 năm tái lập quan hệ đồng chí, trên cơ sở “16 chữ vàng” và “4 tốt” với Trung Quốc, ta càng ngày càng bị họ dồn ép: Thành lập thành phố Tam Sa bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa; mời thầu dầu khí ngay trên vùng đặc quyền kinh tế của ta; xua hằng vạn tàu cá, tàu vũ trang vào vùng biển Trường Sa; đòi “lấy máu người Việt Nam làm lễ tế cờ trong trận chiến Nam Sa“!…
Kỷ niệm 10 năm Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), Chính phủ Việt Nam tuyên bố: “Việt Nam nhất quán chủ trương sẵn sàng cùng Hoa Kỳ nổ lực đưa quan hệ hai nước Việt – Mỹ lên tầm cao mới.” Ngày 2-8-2012 Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết ủng hộ vai trò ASEAN trong vấn đề Biển Đông, ủng hộ Tuyên bố DOC năm 2002 giữa ASEAN- Trung Quốc. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực đóng góp vòng đàm phán thứ 13 Hiệp định Đối tác xuyên Thái bình dương (TPP).
Tình hình trong nước:
Nghị quyết TƯ 4 (khóa 11) nhận định “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”. Tham nhũng đã từ vài “con sâu” trở thành cả “bầy sâu”. Sự khiếu kiện đất đai dai dẳng bởi nạn cướp đất, đẩy nông dân tới bước phản ứng bằng bạo lực. Đội quân chủ lực của cách mạng giải phóng dân tộc đã nãy sinh cựu chiến binh Đoàn Văn Vươn làm bom tự tạo chống cưỡng chế phi pháp. Một trăm hộ dân Văn Giang đương đầu với 1000 cảnh sát vũ trang. Giai cấp công nhân được mệnh danh là giai cấp lãnh đạo, có đến 30% số người bị suy dinh dưỡng. Họ đã tổ chức hơn 5000 cuộc đình công đòi tiền lương, cải thiện bữa ăn, nhiều cuộc huy động từ 5000 đến 10.000 người, nhưng vẫn bị coi là bất hợp pháp, vì không được sự chỉ đạo của công đoàn! Trí thức bị cấm phản biện bằng Nghị định 97 của Thủ tướng. So sánh tư thế của nhà nước Việt Nam với nhà nước Philippines, Hàn Quốc, Nhật Bản…trong cuộc đấu tranh chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền, người Việt Nam không khỏi hổ thẹn. Mỹ sẵn sàng giúp Philippines bảo vệ chủ quyền, trong khi đó đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện dân chủ, nhân quyền làm điều kiện “thế chấp”!
Nghĩ về vận nước, không khỏi chua xót nhớ Trần Xuân Bách! Nguyện vọng khoán hộ của Kim Ngọc tuy đã thành hiện thực, đưa Việt Nam vào hàng nước xuất khẩu lương thực lớn thứ hai thế giới. Tuy nhiên cho đến nay, người cày vẫn cánh cánh giấc mơ quyền sở hữu ruộng cày mà Qua Ninh và Vân Đình (bút hiệu của Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp tác giả quyển Vấn đề dân cày) đòi hỏi vẫn chưa được! Phải chăng tất cả đều còn phải chờ đến khi tư tưởng Trần Xuân Bách trở thành hiện thực trong cuộc sống dân tộc?
Ngày 20 -5 -2002 tại nhà anh Trần Xuân Bách ở Trung Tự (Hà Nội), nhà thơ Hải Như đã viết bài thơ tặng anh:
 
TRẦN XUÂN BÁCH
Chắc chắn lịch sử sau này sẽ dành một trang về anh,
                                                                            - khách quan phán xử
Tôi chỉ xin lưu ý nhỏ mai đời:
Cái Trần Xuân Bách mất rõ rồi, nhưng còn cái được,
                                                                           Tuyệt vời sao!
Chia sẻ tiếng sét giáng xuống đời anh,
Có một người đàn bà nguyện làm ngọn thu lôi vượt qua giông bão.
(Chúng ta từng sống một thời vô luân để  2 chữ “liên quan”
                                                                                       đè lên cơm áo).
Trần Xuân Bách. Anh là nạn nhân và cũng là tác giả tội ác.
                                                                                       Đúng không nào?
Trên chục năm dài lê thê con chim bằng gậm nhấm nỗi cô đơn.
Tâm hồn vẫn sáng trong không rũ buồn vì khép cánh.
Từ Sài gòn mỗi lần ra ghé thăm – tôi vui làm nhân chứng Một tình yêu…
Câu “Chúng ta từng sống một thời vô luân để hai chữ “liên quan” đè lên cơm áo” tôi cảm thấy như chỉ trích riêng mình! Sau khi anh Trần Xuân Bách bị kỷ luật, tôi còn tiếp tục làm tổng biên tập báo Lao Động 3 năm nữa, nhưng không đến thăm anh một lần nào! Tôi tự bào chữa: Vì thời gian này tôi phải liên tục đối phó với quá nhiều áp lực, chống đỡ cho tờ báo… Vì tôi đặt tòa soạn báo Lao Động ở Sài Gòn; gia đình, vợ con tôi cũng ở Sài Gòn, cho nên thời gian tôi có mặt ở Hà Nội rất eo hẹp…Nhưng mọi lý do vẫn không đủ để cho tôi có thể từ chối một chữ “hèn”! Anh Hải Như an ủi: “Mình biết, rất nhiều anh nhờ anh Bách mà leo lên “quyền cao chức trọng”, nhưng sau khi anh bị kỷ luật, suốt bao năm có anh nào dám đến thăm ông thày cũ của họ đâu! Cũng đừng trách họ hèn, bởi chúng ta phải sống “một thời vô luân” mà!”.
Ngày anh Bách qua đời (1-1-2006), nhà thơ Hải Như viết bài “Vĩnh biệt người bạn cùng quê”, có 3 câu này:
 “Tôi nhớ tới câu thơ hôm nào anh ghi tặng tôi:
 “Bác Hồ là chúng ta khi chúng ta thật sự là chúng ta.”
 “Ngày Anh đi xa, trên báo Nhân Dân, bạn đọc thấy những gì thuộc về anh đều được trả lại”.
Tôi muốn tuyên xưng “Bác Hồ là chúng ta” theo ý Trần Xuân Bách để tiếp tục đưa Dân chủ, Tự do tới đích. Nhưng tôi không đồng ý với nhận định “những gì thuộc về anh đều được trả lại”! Cho dù điếu văn có nhắc lại tất cả công lao Trần Xuân Bách, cho dù đã kể ra đủ các loại huân chương mà anh được trao tặng, cho dù cuối cùng, anh đã được nằm trong nghĩa trang Mai Dịch, nơi chỉ dành riêng cho các vị đại công thần của chế độ… nhưng tư tưởng cao cả mà Trần Xuân Bách hằng tâm nguyện và dám hiến mình, đâu đã được trả lại?!

Tống Văn Công
(Trích hồi ký Làm báo, để nhớ 23 năm trước được gặp Trần Xuân Bách)
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 6-9-12

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012

Hãy trả lại quyền làm người cho nhân dân

QUYỀN LÀM NGƯỜI

Bé có quyền hạnh phúc (Sàng Ma Sáo)
Nếu ai có dịp lên các lớp học vùng cao sẽ thấm thía nỗi cô đơn cùng cực của người dân vùng sơn cước. Mình nghe nói hàng năm nhà nước dành rất nhiều ngân sách cho bà con dân tộc. Trường lớp có xây cất, tường xây, mái lợp tôn, bàn ghế nơi có nơi không. Nhưng hầu như chỉ ở các khu trường chính mới có lớp xây, còn lớp cắm bản thì lưa thưa vách liếp, trống hoác gió lùa. Học sinh có được chút tiền trợ cấp cho bữa ăn, nhưng với số tiền hơn trăm ngàn đồng tháng thì khó khuyến dụ trẻ đến lớp. Ngoài ra họ được những gì? Không gì hết. 
Các học trò này có quyền được học một lớp học đàng hoàng (Cao Sơn)
Đó là cuộc sống của học sinh. Còn cha mẹ chúng thì khổ nữa. Cái này ai cũng hiểu, cũng biết. Nhưng mỗi khi có dịp lên vùng cao, “thám hiểm”, “khám phá” thêm cái nghèo mạt rệp của người dân thì dường như nơi đã biết chưa phải nơi nghèo nhất. Vùng đất nơi họ sống như một ốc đảo khuất nẻo xa xã hội con người văn minh. Vùng đất tổ tiên của họ, đương nhiên họ bám víu để sống. Nhưng chắc chắn họ không lựa chọn nghèo đói, lạc hậu triền miên nhiều kiếp. Nhiều người tha thiết bảo vệ cho cuộc sống hồn nhiên ấy của người dân tộc và cho rằng chính chúng ta (những người ở thành phố) mới là kẻ đáng thương. Về mặt nào đó là đúng, như thiên nhiên đẹp, môi trường trong sạch hơn, không khí trong lành hơn…Nhưng khi con người không thể bảo đảm tối thiểu cho cuộc sống của họ với nhiều rủi ro thì sự ngẫm ngợi triết lý kia gần như là ngụy biện. 

Nếu so sánh cuộc sống giữa người giàu ở thành phố và nghèo của vùng cao thì giống như muốn có câu trả lời phải bắc thang lên hỏi ông trời. Một bữa nhậu của quan chức, đại gia có thể lên đến hàng trăm triệu. Một buổi hầu đồng của mấy anh quan chức vô đạo nhưng mê tín dị đoan và đám đại gia lắm tiền nhiều của nhưng sợ ân oán, nhân quả cũng tính đến số tiền hàng trăm triệu. Một chai rượu ngoại lưu niên cũng hàng vài chục triệu…
Bữa cơm có thịt nhờ những hoạt động của một xã hội dân sự (Sàng Ma Sáo)
Còn đây là vài số liệu mà nhóm "Cơm có thịt" chuyển tiền quyên góp từ những người hảo tâm ở khắp nơi để tài trợ cho đám lau nhau trứng gà trứng vịt ở các trường mầm non vùng cao có bữa cơm trưa ở trường được ăn thịt là thế này:
-Mầm non Y Tý: 132 trẻ x 120.000 = 15.840.000/tháng
-Mầm non Ngải Thầu: 84 trẻ x 120.000 = 10.080.000/tháng
-Mầm non A Lù: 106 trẻ x120.000 = 12.720.000/tháng
-Mầm non Tung Chung Phố: 85 trẻ x 120.000 = 10.200.000/tháng
-Mầm non Pa Thơm huyện Điện Biên: 88 trẻ = 10.560.000
-Mầm non Số 2 Mường Nhà: 148 trẻ = 17.760.000/ tháng
-Mầm non số 2 Núa Ngam: 127 trẻ = 15.240.000/tháng
Và chỉ cần vài chục triệu là đã mua được rất nhiều đồ dùng cho trẻ: bát ăn cơm, ly nước, khăn mặt, chăn bông cho mùa đông, thìa, chậu, rổ rá, thùng…đủ cho mấy trường mầm non.

Cơm có thịt ở Suối Giàng
Đó chính là những hoạt động tự nguyện của người dân tham gia vào quá trình “phân phối lại” để thu bớt chút nào khoảng cách giàu nghèo, bớt đi những bất công (khó tránh khỏi ở những nước đang phát triển), giúp trẻ nghèo có cơ hội được đến trường, được thêm dinh dưỡng cho tuổi trưởng thành. Và xã hội dân sự đang hình thành từ những việc thiết thực như thế…
Cô bé học trò này có quyền được chữa trị bệnh ngoài da mà em chưa một lần được chăm sóc y tế (Dền Thàng)
Cụ già này đáng lẽ không phải thổi khèn môi ăn xin trong giá rét (Sapa)
Cụ già này đáng lẽ được nghỉ ngơi khi tuổi cao (Tả Gia Khâu)
Việc ai lợi dụng và lợi dụng như thế nào xã hội dân sự là việc của cơ quan an ninh. Nhưng không thể lấy lý do đó để ngăn cản những tổ chức dân sự ra đời. Mà chắc chắn không ngăn nổi. Các tổ chức từ thiện phát triển nhiều, nhanh như hiện nay đã giúp xoa dịu nhiều nỗi đau của rất nhiều người kém may mắn. Và cũng là giúp nhà nước ở nhiều nơi chính quyền do dân, vì dân, của dân không vươn tới được, hoặc rất yếu ớt. 
Khoan bàn đến những việc quá to tát mà xã hội dân sự có thể làm được. Hãy nhìn vào các tổ chức từ thiện tự phát hiện nay để thấy, nếu phủ nhận một xã hội dân sự tức là tước đoạt đi cơ hội của người dân tham gia vào điều hành xã hội bằng những việc làm từ thiện vô cùng thiết thực. Và đồng thời tước bỏ miếng ăn của đứa trẻ nghèo nhờ những tấm lòng hảo tâm. Tước bỏ cơ hội được sống, chữa bệnh của nhiều người nghèo. Tước bỏ lối sống tử tế. Tước bỏ sự chia sẻ và khoét sâu lối sống vô cảm…
Không lẽ đây là việc làm nguy hiểm, chống đối cần ngăn chặn?
Không lẽ đây là phương thức để lật đổ chế độ?
Không lẽ đây là âm ưu của các thế lực thù địch với thủ đoạn diễn biến hòa bình?
Còn nếu chấp nhận để các tổ chức tự nguyện làm từ thiện mà vẫn chống lại xu hướng xã hội dân sự thì liệu có phải thể hiện tính cơ hội của chính quyền?
Xin nhắc lại câu nói của nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt:  
"...Không có xã hội dân sự lành mạnh thì không thể có nền chính trị lành mạnh được, bởi vì tất cả các yếu tố tham gia vào hệ thống chính trị ấy đều lấy từ xã hội dân sự. Tại sao trong đội ngũ cán bộ nhiều người cơ hội thế? Bởi vì xã hội dân sự được rèn luyện một cách cơ hội, nên yếu tố từ đấy tham gia vào đời sống chính trị sẽ cơ hội thôi. Cho nên, chúng ta phải đủ bản lĩnh để ngăn chặn các rủi ro làm biến dạng con người. Nhân quyền chính là những thứ như vậy chứ không phải là cái gì đó cao siêu. Tôi đã có một kết luận rằng nhân quyền không còn là quyền chính trị, nhân quyền là quyền phát triển và chống lại rủi ro của cuộc sống”.
Xin hãy trả lại quyền làm người cho nhân dân.
(Nguồn: buudoan.com)

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Đọc lại nguồn gốc ngày Lễ Vu Lan

(Dân trí) - Không biết tự bao giờ, ngày lễ Vu Lan đã trở thành ngày trọng đại không thể thiếu trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam. Nguồn gốc của ngày lễ có người biết, có người chưa biết nhưng ý nghĩa nhân văn sâu sắc của ngày này thì ai cũng thấu tỏ.

Sự tích lễ Vu Lan

Đọc lại nguồn gốc ngày Lễ Vu Lan
Theo kinh Vu Lan, ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện được nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ ra sao nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sinh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Nhưng do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình để tránh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp. Vì vậy khi bát đưa lên miệng, thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.
Mục Kiền Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày Rằm tháng bảy là ngày thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó".
Vu Lan ăn chay...
Vu Lan ăn chay...
... và làm từ thiện. (ảnh: 
... và làm từ thiện. (ảnh: 
trao quà cho trẻ em mồ côi ở huyện Đại Lộc - Quảng Nam)
Làm theo lời Phật, Mục Kiền Liên đã giải thoát được mẹ. Phật cũng dạy rằng chúng sinh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.
Bông hồng cài áo
Tháng Bảy, mùa Vu Lan về cùng với ngày Rằm xá tội vong nhân. Ngày nay trong lễ này, người Việt ta có một "quy ước": nếu ai đó còn mẹ sẽ được cài một bông hoa màu hồng lên áo. Ai đã mất mẹ thì cài hoa trắng. Người cài hoa trắng sẽ thấy như một sự nhắc nhở, sẻ chia, không bao giờ quên ơn cha mẹ. Người được hoa hồng sẽ sung sướng vì biết rằng mình còn có mẹ.
Hoa hồng đỏ cho những ai còn có mẹ trên đời
Hoa hồng đỏ cho những ai còn có mẹ trên đời
Hồng trắng ngậm ngùi cho những ai không còn mẹ
Hồng trắng ngậm ngùi cho những ai không còn mẹ
Bông hồng cài áo thực ra là tên một đoạn văn viết về Mẹ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh và cũng là tên một ca khúc do nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ sáng tác trong thập niên 1960, lấy ý từ bài viết trên.
Theo Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, bông hoa hồng trong cách nhìn của người Việt là loài hoa thông dụng và dễ thương, được nhiều người yêu thích nhất. Loài hoa này còn mang quy ước biểu hiện của tình yêu thương của loài người. Chính vì thế Hòa thượng đã chọn bông hoa hồng làm biểu tượng cho lễ Vu Lan báo hiếu của nhà Phật và viết ấn phẩm “Bông Hồng Cài Áo” vào tháng 8 năm 1962.
Sung sướng khi được chọn hoa hồng đỏ (hồng vàng dành cho các Thầy)
Sung sướng khi được chọn hoa hồng đỏ (hồng vàng dành cho các Thầy)
Để làm mọi người hiểu hơn về điều này, chính bản thân Hòa thượng đã làm lễ cài Bông hồng đầu tiên cho tăng ni và phật tử ở chùa Pháp Hội, Sài Gòn. Từ đó các chùa và các tổ chức gia đình phật tử đã nhân rộng thành lễ cài Bông hồng trong dịp lễ Vu Lan báo hiếu như hiện nay.
Ý nghĩa nhân văn
Không kìm được nước mắt trong ngày Vu Lan

Không kìm được nước mắt trong ngày Vu Lan
Không kìm được nước mắt trong ngày Vu Lan
Làm lễ, tụng kinh và trì chú Đại bi dịp lễ nàyLàm lễ, tụng kinh và trì chú Đại bi dịp lễ này
Ngày lễ Vu Lan là dịp “nhắc nhở” các thế hệ con cháu chúng ta nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, tổ tiên cũng như những đóng góp to lớn của các anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước. Ðồng thời giúp chúng ta tiếp cận được những ý nghĩa giáo dục đầy nhân bản của văn hoá Phật giáo đó là “Từ, bi, hỷ, xả”, “vô ngã, vị tha”, “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”.
Một mùa Vu Lan nữa lại về, nhắc nhở mỗi con người chúng ta bài học sâu sắc về chữ Hiếu thiêng liêng, đừng để đến khi cài hoa trắng lên ngực mới hối hận vì chưa tròn chữ Hiếu.
Bài và ảnh: Việt Hùng

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Muốn sống yên phải làm người “lành”?

TT - Để thích nghi và tồn tại trong môi trường làm việc nhiều thị phi và cạnh tranh, không ít người trẻ chọn cách sống “lành” - dĩ hòa vi quý trong mọi trường hợp.
“Luôn im ỉm trong các cuộc họp, ngại va chạm, thiếu thẳng thắn trong công việc và luôn hùa theo số đông bất kể đúng sai”, là những đặc điểm dễ nhận ra của những người “lành” này, theo nhận xét của không ít nhà quản lý.
Khi “im lặng là vàng”
H.Nguyên (25 tuổi) cho biết: “Thời đi học tôi học giỏi nhưng ít khi giơ tay phát biểu trong lớp. Lớn lên đi làm, nhiều lần tôi biết chắc cách lập luận của mình là đúng, nhưng chẳng bao giờ tôi có đủ tự tin tranh cãi với đồng nghiệp, sếp”. Đi làm ngân hàng được bốn năm, H.Nguyên tự nhận bản thân chưa từng đưa ra một ý kiến nào trong các cuộc họp phòng, ban. Bị đồng nghiệp chèn ép, H.Nguyên tự an ủi: “Chắc tại mình xui!”.
Tốt nghiệp cao học kinh tế từ Mỹ về, Q.Cường (30 tuổi) được nhiều người đánh giá cao về khả năng làm việc cũng như vốn ngoại ngữ đáng nể. Tuy nhiên, năm năm qua, khi bạn bè cùng trang lứa đã dần có vị trí ổn định trong xã hội thì Q.Cường vẫn bằng lòng với vị trí nhân viên bình thường. “Làm càng cao thì càng phải gánh nhiều trách nhiệm và dễ bị nhòm ngó”, anh giải thích lý do nhiều lần từ chối việc được cơ quan cất nhắc.
Trái ngược hai trường hợp trên, từ lúc được đưa vào danh sách cán bộ nguồn của một tổ chức, B.Thanh (27 tuổi) trở nên ít nói đến kỳ lạ, trong khi trước đây B.Thanh luôn được coi như đầu tàu năng nổ trong mọi hoạt động. Hiện tại, trong các buổi họp ở cơ quan, B.Thanh ngồi yên hoặc chỉ phát biểu những ý kiến dạng vô thưởng vô phạt...
Sống thẳng, nói thật: làm lính cả đời!
Đó là đúc kết của B.Thanh sau khoảng thời gian dài liên tiếp bị chơi xấu trong công sở.
Từ khi được cất nhắc, thông tin về công việc lẫn đời tư của B.Thanh bỗng dưng trở thành đề tài nóng trong giờ ăn trưa, chuyện tán gẫu của nhiều đồng nghiệp trong cơ quan. “Cá tính thẳng thắn của tôi kéo theo bao nhiêu là phiền phức, bởi điều đó đụng chạm ít nhiều cái tôi của một số người. Khi thấy tôi có cơ hội thăng chức, họ sẵn sàng đặt điều và tìm cách tẩy chay, bôi xấu tôi bằng mọi cách. Bị vài lần như thế tôi đâm sợ và đành chọn cách sống dĩ hòa vi quý trong cơ quan, dù rất tự tin vào năng lực của mình”, B.Thanh giải thích.
Nhớ lại thời cấp II, H.Nguyên kể: “Tôi từng bị điểm 2 môn văn vì không viết theo dàn bài có sẵn. Lần đó, khi lên tranh luận với giáo viên về điểm số và bị phán là vô lễ, tôi bị ám ảnh mãi về chuyện phản biện...”. Nhiều lần bị cảnh cáo ở trường học vì cái tội “hay lý sự quanh co” khiến H.Nguyên chọn cách sống co mình lại khi đi làm để tránh đụng chạm.
Được gia đình bao bọc từ nhỏ, Q.Cường chỉ cần học, không phải lo lắng bất kỳ điều gì khác. “Học trường nào tại Mỹ, làm việc ở đâu, lập gia đình với ai... gia đình thay tôi quyết định hết. Tôi dần không tự tin làm những việc lớn và rất sợ đương đầu với thử thách”, anh thú nhận.
“Rất nguy hiểm”, tiến sĩ Lukas M. (người Thụy Sĩ, nguyên giám đốc trực tuyến Tập đoàn Cimigo tại VN) đã đúc kết như thế khi nói về thói quen hay im lặng, thích sống yên phận của một bộ phận lao động trẻ Việt.
Trong công sở, ông Lukas cho rằng chuyện nhân viên có tâm lý “cố giữ im lặng, nhắm mắt làm đại để mọi chuyện tới đâu thì tới còn hơn là nêu góp ý, phản bác với đồng nghiệp, sếp” là một tác động xấu đến hiệu quả công việc. “Sếp cũng là người và cũng có những sai lầm như bất kỳ ai khác. Sự phản biện của nhân viên giúp chúng tôi đưa ra những quyết định đúng đắn hơn”, ông nhấn mạnh.
Tuy nhiên, nhiều bạn trẻ lại cho rằng lời khuyên nên nói thẳng, sống thật của ông Lukas chỉ phù hợp với một số môi trường làm việc nhất định. Q.Nghi (25 tuổi, nhân viên một tập đoàn lớn của Hàn Quốc) khẳng định: “Tôi không muốn là người “lành” trong công ty. Như thế tẻ nhạt lắm. Nhưng trong công ty tôi từ lâu đã tồn tại công khai nguyên tắc “chỉ nghe, không được lên tiếng” với các sếp, đồng nghiệp có thâm niên. Ai đi ngược lại với nguyên tắc này chắc chắn sẽ khó có thể yên thân”. Q. Nghi cho biết thêm nhiều công ty mà bạn biết cũng có kiểu văn hóa doanh nghiệp “im lặng thì sống, nói nhiều thì chết”. Bạn băn khoăn: “Chúng tôi biết phải làm sao?”.
CÔNG NHẬT

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Nội trú dân nuôi và ước mơ "cơm có thịt"

TTCT - Câu chuyện về ước mơ “cơm có thịt” của học sinh xã Suối Giàng (huyện Văn Chấn, Yên Bái) mà nhà báo Trần Đăng Tuấn (tổng giám đốc Công ty nghe nhìn toàn cầu AVG) kể lại đang gây nên một “cơn sốt” trên mạng.
Nhưng Suối Giàng chưa phải là nơi khó khăn nhất trong hàng trăm xã miền núi Tây Bắc, câu chuyện “nội trú dân nuôi” đầy ám ảnh ở vùng rẻo cao đã đằng đẵng mấy chục năm nay rồi...
Cạnh Trường THCS xã Chung Chải (huyện Mường Nhé, Điện Biên) là khu lều tre nứa cho các em nội trú - Ảnh: Ngọc Quang
Một phòng học với hai lớp quay lưng vào nhau, thầy giáo dạy cả hai lớp cùng lúc ở bản Tá Miếu - Ảnh: Ngọc Quang
Mười lăm năm trước, khi lên miền tây Quảng Trị, chúng tôi tìm gặp thầy giáo Hà Công Văn, khi đó còn chưa ai biết là một thầy giáo cắm bản đã tròn 20 năm, dạy học trò, nuôi học trò và đã gây dựng nên mô hình “nội trú dân nuôi” ở Quảng Trị. Sau này thầy Văn trở thành Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, hàng trăm bài báo, thước phim ca ngợi thầy Văn.
Nhưng hình ảnh thầy Văn lúng túng trong bộ comple, cà vạt ở các đại hội thi đua khó thay thế được hình ảnh mà tôi gặp khi thầy lặn lội lên núi, vai mang gùi, tay cầm rựa, đi kiếm măng rừng về làm bữa trưa cho những đứa học sinh “nội trú dân nuôi” mà thầy đã đưa về từ các bản làng.
Suối Giàng đã “ăn cơm có thịt”
Thầy Văn cũng không phải là người sáng tạo cụm từ “nội trú dân nuôi”, chỉ biết một lần vào bản Cựp, xã Húc Nghì, huyện Đăkrông thấy cu Mắt thèm đi học mà đường từ đó ra đến trường gần 20km, thầy Văn bàn với gia đình cho cu Mắt ra ở với thầy để đi học. Thấy cu Mắt ra ở với thầy Văn, nhiều gia đình trong bản cũng gửi con cho thầy.
Trường chưa có nhà nội trú, thầy Văn và các giáo viên trong trường cùng dân bản đi chặt tre rừng, kiếm lá lợp, dựng những túp lều đầu tiên. Rồi lấy lồ ô đập ra làm sạp, đi xin chăn ở đồn biên phòng cho các em đắp, hằng tuần bố mẹ mang gạo từ bản ra cho con, còn thức ăn thì thầy ăn gì trò ăn nấy. Sau giờ học cả thầy lẫn trò xuống suối mò ốc, đơm cá hay lên nương tìm măng, bẫy thỏ rừng, bẫy dúi (chuột rừng) làm thức ăn.
Rồi cá dưới khe cũng không nhiều như trước, rau trên rừng không phải mùa nào cũng sẵn, thế là thầy trò vỡ đất trồng rau, đào ao nuôi cá... Dắt díu nhau như thế để rồi đi qua đời thầy Văn là những lứa học trò đủ sức đi xa khỏi chân núi quê nhà, về tỉnh học cấp III ở trường dân tộc nội trú, và đi xa hơn thành sinh viên đại học, nhiều em nay đã thành thầy cô giáo, công chức, cán bộ huyện...
Hai tuần trước, tôi lên Suối Giàng, tận mắt thấy học sinh hai trường tiểu học và THCS xã Suối Giàng được “ăn cơm có thịt” - món thịt có được nhờ câu chuyện nhà báo Trần Đăng Tuấn đã lan tỏa khắp cộng đồng và được hiện thực hóa bằng số tiền quyên góp hàng trăm triệu đồng.
Nhưng có ai thống kê được còn bao nhiêu Suối Giàng và “hơn cả Suối Giàng” trên đất nước ta? Nhất là những vùng biên giới mà để vào đó phải mất cả ngày đường cho một quãng đường vài chục cây số, những vùng mà học trò phải trèo đèo lội suối cả ngày để đến lớp, nuôi lấy cái chữ cho mình - như những học trò gầy gò mà chúng tôi gặp trên đường ở xã Chung Chải (huyện Mường Nhé, Điện Biên).
Nụ cười ở cực tây Tổ quốc - Ảnh: Ngọc Quang
Những “tổ chim” chênh vênh 
Từ ngã ba thị trấn Mường Chà (trên quốc lộ 12 từ Điện Biên đi Mường Lay) vào đến thị trấn huyện lỵ Mường Nhé chừng 160km, rồi từ đây lên đến A Pa Chải - ngã ba biên giới ba nước Việt - Trung - Lào mất thêm 75km nữa. Trường Chung Chải nằm phía dưới xã Sín Thầu và Leng Su Sìn, gần ngã ba biên giới. Cạnh ngôi trường THCS khang trang, chỉ cách một mái đồi là hàng chục túp lều “nội trú dân nuôi” mọc san sát nhau.
Thầy Đỗ Văn Đà, hiệu trưởng Trường Chung Chải, bộc bạch: “Cả xã chỉ có một điểm trường THCS này, học sinh trên Leng Su Sìn cũng về đây học”. Những túp lều trọ học chênh vênh như những tổ chim sơ sài trên sườn đồi là nơi ở của học sinh người Mông, Hà Nhì, Si La...
Dù khác dân tộc nhưng lều nào cũng giống nhau bởi đều được dựng từ hai vật liệu chính là tre nứa và bạt nhựa. Một bộ khung bằng tre dựng lên, nứa được đập dập làm mái, tấm bạt nhựa phủ lên, lại một lớp nứa được chặn lên để tấm bạt khỏi bị gió thổi bay. Quanh lều cũng được che chắn bởi phên nứa, gió cứ lùa hun hút qua khe nứa hở. Các em dựng lều nọ sát lều kia để che chắn cơn gió lạnh buốt trên rẻo cao cho nhau.
Trong một túp lều như thế, Sùng A Dơ, người Mông, đang thổi cơm chiều. Nhà Dơ ở bản Nậm Vì - bản xa nhất - cách trường đến 24km. Túp lều của Dơ có thêm bốn bạn, cùng là người Mông là Vàng A Sính, Vàng A Sử, Và A Súa và Giàng A Và, tất cả cùng quê ở bản Nậm Vì. Hỏi: “Cơm có đủ no không?”. Dơ cười ngượng ngịu: “No”. Hỏi: “Thế thức ăn đâu?”, Dơ không nói.
Nhìn quanh, cả góc bếp chỉ có một cái nồi. “Thế ăn cơm với gì?”. “Muối thôi”. Tôi nhìn lên mái bếp thấy một nhúm muối trắng gói trong túi nilông vo tròn nhét giữa mấy thanh nứa. Giàng A Và bảo: “Cũng có hôm có cá suối”. Tôi theo Và qua lều bên cạnh, mấy bạn của Và đang dùng dao vót những thanh nứa thành mũi tên nhọn - thứ giúp các em săn những con cá suối để cải thiện bữa ăn.
Sùng A Dơ, học sinh lớp 7A, quê tận bản Nậm Vì (huyện Mường Nhé, Điện Biên) - Ảnh: Ngọc Quang
Quanh lều của những học sinh nữ có vài luống cải mèo gieo theo kiểu “tận dụng” lên xanh um. Toán Hà Na bảo có khi mang cá suối săn được cho các bạn nữ, các bạn ấy lại cho rau. Lại nhớ ở Suối Giàng, các em còn có một bếp ăn tập thể, có cả người nấu bếp. Nhưng ở đây thì “một lều một nồi”, gạo các em tự mang từ nhà lên, cơm tự nấu, tự săn dúi, bắt cá, tự trồng rau... nuôi mình.
Dưới những sạp nứa mà các em nằm ngủ xếp đầy săm, lốp xe máy cũ. Hỏi ra mới hay tuy sống giữa rừng nhưng các em được thầy cô dạy không chặt cây rừng làm củi, chỉ được nhặt cành khô. Nhưng vào mùa mưa cành khô ướt sũng nước, rất khó cháy, bởi thế những chiếc săm, lốp cũ kia được các em nhặt nhạnh về, cắt ra dùng để nhóm lửa. Nước để ăn uống thì các em mang can nhựa đi qua mé đồi, xuống con suối trước trường cõng về.
Vàng A Sính và Giàng A Và tranh thủ học bài trong ánh sáng buổi chiều xuyên nhợt nhạt qua tấm bạt xanh trên mái lều vì tối không có điện. Mà giả dụ có điện chắc cũng chẳng ai dám kéo vào đây - nơi cả trăm túp lều nứa khô nỏ, mái lợp bạt nhựa nằm san sát.
Trong gần 300 học sinh nội trú ở Trường THCS Chung Chải có 21 em người dân tộc Si La ở bản Nậm Sim. Những học sinh này nằm trong nhóm các dân tộc ít người cần được bảo tồn nên có chính sách ưu đãi riêng với 379.000 đồng/em/tháng. Có ưu đãi, nhưng nơi ăn chốn ở của các em cũng không khác gì, cũng ngủ trên những sạp nứa, trong túp lều nứa phủ bạt. Dọc đường, chúng tôi đi qua không biết bao nhiêu khu “nội trú dân nuôi” như những “phiên bản” của Chung Chải.
Rau xanh các em tự trồng để bữa cơm có thêm chút tươi ngoài muối trắng - Ảnh: Ngọc Quang
Thống kê và hi vọng
Chuyện dạy và học ở những miền rẻo cao chúng tôi đã nhiều lần nhắc đến. Và hẳn là chuyện khó khăn gian khổ ở nơi nào cũng có một mẫu số chung. Cứ ghé vào những nơi như huyện miền núi Mường Lát, Quan Hóa ở Thanh Hóa hay vùng Đakrông, Hướng Hóa của Quảng Trị, vào những xã ở Tu Mơ Rông của Kon Tum hay Tây Trà của Quảng Ngãi... đều có thể thấy những hình ảnh như đã thấy ở Chung Chải, gặp những “bữa cơm không thịt” như nhà báo Trần Đăng Tuấn chứng kiến ở Suối Giàng...
Nhưng giờ vẫn không nhiều đứa trẻ gặp may mắn như học sinh Suối Giàng. Và để có “bữa cơm có thịt” cho tất cả các em, hẳn không thể chỉ nhờ vào lòng hảo tâm của vài trăm, thậm chí vài ngàn cá nhân. Không biết Bộ Giáo dục - đào tạo đã bao giờ làm phép tính cộng số học sinh “nội trú dân nuôi” ở các xã khó khăn nhất trên đất nước ta, rồi lấy số học sinh đó làm phép nhân với giá tiền của một, hai bữa cơm có thịt trong tuần để ra con số dự liệu kinh phí mua thịt cho các em?
Chắc chắn đó là một con số không nhỏ, nhưng cũng chắc chắn con số đó không phải là lớn, khi mỗi ngày vẫn đọc thấy không thiếu những trăm tỉ, ngàn tỉ thất thoát, những dự án hàng chục tỉ “đắp chiếu”...
Kể lại một lần nữa những câu chuyện cũ để không nguôi hi vọng. Khi tôi viết những dòng cuối cùng về câu chuyện “nội trú dân nuôi” này thì thầy Đỗ Văn Đà gọi điện về, giọng không giấu được vẻ hồ hởi, kể rằng hôm 6-10 vừa qua tại Chung Chải, Sở Giáo dục - đào tạo Điện Biên đã khởi công xây dựng khu nội trú dân nuôi cho cụm các xã vùng khó huyện Mường Nhé.
Rằng dự án sẽ xây 84 phòng nội trú, tám gian bếp và 800m2 sân bêtông cho sáu trường: THCS Chung Chải, Na Cô Sa, Chà Cang, tiểu học Pá Mỳ, Nậm Pồ và Nà Khoa với tổng vốn đầu tư 13 tỉ đồng, Ngân hàng Công thương Việt Nam tài trợ 10 tỉ đồng, số còn lại lấy từ vốn sự nghiệp giáo dục của tỉnh. Toàn bộ dự án lo được cho 700 chỗ ở, trong khi chỉ riêng số học sinh của một trường bình quân đã 300 em.
Và đó mới là chuyện ở. Vẫn còn chuyện “cơm thiếu thịt” mà chắc không thể ngày một ngày hai có được. Nên lại một lần nữa, như mười mấy hai chục năm trước, không nguôi hi vọng.
Sùng Thị Lỳ, Mùa Thị Mai và Giàng Thị Dua - Trường THCS Suối Giàng - sau giờ học tranh thủ thêu thùa - Ảnh: Ngọc Quang
Cận cảnh những túp lều của các học sinh nội trú dân nuôi ở Chung Chải - Ảnh: Ngọc Quang
Hai em Vàng A Sính và Giàng A Và (dân tộc Mông) tranh thủ coi bài, dưới sàn là những lốp xe máy cũ được các em nhặt về để đốt sưởi qua mùa đông - Ảnh: Ngọc Quang
LÊ ĐỨC DỤC