Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Để làm giàu thì làm quan là giàu nhất và tốt nhất

- "Trong các nghề để làm giàu thì làm quan là giàu nhất và tốt nhất. Nếu coi làm quan là một nghề làm giàu thì người dân phải biết "đầu tư"".
Đó là một trong những chia sẻ của TS Nguyễn Minh Phong, trưởng phòng Nghiên cứu Kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội.

Quá trình không bình thường


Theo ông, những biểu hiện của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua có bình thường?


Kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi. Đây là một quá trình không bình thường, thậm chí là chưa có tiền lệ trong lịch sử Việt Nam cho nên nó không bình thường.


Ông thấy nó có khuyết tật gì không?


Câu hỏi này khó trả lời. Nếu nói nó khuyết tật là phải so với cái gì?

a
TS Nguyễn Minh Phong

Ví dụ như sự biến động bất bình thường của giá vàng trong thời gian qua chẳng hạn?

Giá vàng thế giới biến đổi thì giá vàng của mình biến đổi theo. Với tôi hiện tượng giá vàng nhảy múa thời gian qua là bình thường.


Vậy ông giải thích thế nào về sự chênh lệch "bất thường" của giá vàng?


Sự chênh lệch giá này có hai ý: Thứ nhất là Việt Nam đang ngày càng hướng đến sát giá thị trường thế giới, tuy nhiên cũng có lúc có sự chênh lệch không bình thường. Cái không bình thường đó nó gắn liền với quyết định can thiệp tài chính của Nhà nước cho nhập khẩu vàng hay không cho nhập khẩu vàng. Thứ hai là cái sự lên xuống đó còn do đầu cơ, do tâm lý của người dân.


Phải "thông cảm" với vai trò quản lý của Nhà nước


Có người sẽ nghĩ rằng, do vai trò của quản lý Nhà nước trong việc này kém mới dẫn đến hệ quả đó?


Dùng từ "kém" thì hơi nặng. Ở mức độ nào đó phải "thông cảm" với vai trò quản lý của Nhà nước. Kinh tế Việt Nam do thị trường chưa đầy đủ, chính sách của mình chưa phân biệt rõ ràng các quyền lực nên nó càng chậm, dẫn đến sự phản ứng của Ngân hàng Nhà nước tương đối chậm so với thị trường.


Bằng chứng cho thấy là quyết định nhập khẩu vàng rất chậm làm cho giá vàng lệch nhau đến 2 triệu đồng/lượng, có lúc lên đến 3 triệu đồng. Điều này được lý giải bởi cái sự e ngại, sự sợ, lúc cho, lúc không của Ngân hàng Nhà nước, nó mới gây ra tình trạng như vậy.


Sự e ngại đó, là do người phụ trách không đủ quyền lực hay do năng lực có vấn đề?


Cái đó bạn nên hỏi trực tiếp họ thì hơn. Nhưng theo cá nhân tôi quan sát thì nó xuất phát từ cơ chế.


Theo ông thì có hay không có sự bắt tay giữa các nhà quản lý với những kẻ đầu cơ để chậm ra quyết định nhằm thao túng thị trường vàng?


Điều này phải có quá trình điều tra mới trả lời được. Nhưng bằng sự quan sát của tôi và bằng phát biểu của những người khác thì tôi thấy có dấu hiệu đó.


Làm gì mà không phát hiện ra sự chênh lệch đến 2 triệu đồng trong một khoảng thời gian dài như thế. Người ta thường lý giải bởi cơ chế. Nhưng cá nhân tôi cho rằng có thể đó là sự chậm trễ cố ý. Nếu hiểu rằng đó là "bắt tay" thì cũng được.


Các quan chức vẫn sống được bằng lương


Ông đánh giá như thế nào về những diễn biến sau mỗi đợt tăng lương?


Việc tăng lương, tiền nhiều, thì tạo ra sức mua lớn, dẫn đến giá tăng cao lại phải bù vào lương. Cái vòng xoáy ấy kéo dài như thế suốt mười mấy năm, cho đến nay vẫn còn. Tôi cho rằng tâm lý đó cần phải nhạt dần và nó đang có xu hướng nhạt dần.


Theo quan điểm của ông, việc tăng lương lên mức cao nhất là 2 triệu đồng/tháng vào tháng 10 tới có đáp ứng được cuộc sống của người dân hiện nay không?


Mức tăng đó được đặt trong vòng cân đối ngân sách trả lương và khả năng chịu đựng của doanh nghiệp. Nó dựa trên mức sống cụ thể tối thiểu, của người dân. Nhưng mức đó về cơ bản là được cải thiện, chứ để nuôi được người lao động thì chưa.


Theo ông, bao lâu nữa người dân sống được bằng lương?


Có một số doanh nghiệp đã sống bằng lương như doanh nghiệp FDI, ngành dầu, điện, ngân hàng, các quan chức... vẫn sống được bằng lương. Nên không thể nói không có ai sống được bằng lương. Còn về cơ bản, có đến 3/4 hoặc 4/5 lượng lao động ở Việt Nam chưa sống được bằng lương tối thiểu.


Một số doanh nghiệp sống được bằng lương đó họ có đặc quyền như than, dầu, điện mà đó là tài sản của Nhà nước?


Đó là bất cập của cơ chế hiện nay. Những đặc quyền đó chính là tài sản quốc gia và lợi ích toàn dân. Nhưng giữa cơ chế với thực tế có khoảng cách nên phải nghiên cứu để có hướng xử lý.


Dù vậy vẫn không nên kỳ vọng vào sự tuyệt đối. Nếu Nhà nước có áp dụng các biện pháp như cổ phần hóa, cạnh tranh tự do, kiểm soát thu nhập bằng thuế thu nhập... thì cũng chỉ là để hạn chế những điều đó.


Để có cơ hội làm giàu


Như ông nói, có tới 4/5 lượng lao động chưa sống được bằng lương, như vậy liệu người dân Việt Nam có thỏa mãn với cuộc sống họ đang buộc phải "sở hữu"?


Có nghiên cứu cho rằng, Việt Nam tuy nghèo nhưng sống hạnh phúc và lạc quan nhất. Họ nghèo nhưng sống tằn tiện, sống cố để hài lòng.


Hơn nữa, con số công bố về thu nhập không hoàn toàn phản ánh đúng thu nhập thực tế.


Mức thu nhập khai báo không đúng thực tế phản ánh thế nào về sự minh bạch của nền kinh tế?


Con số thống kê để tính thuế quan trọng nhưng con số đó ít chính xác. Tình trạng khai báo gian dối không chỉ một lĩnh vực mà trong hầu hết các lĩnh vực.


Vậy theo ông mức thu nhập trung bình của cán bộ công quyền chênh lệch thực với lương trên giấy tờ là bao nhiêu?


Rất khó biết. Chỉ biết chắc chắn là nó lệch rất nhiều. Bởi thế mà có một thứ trưởng mới nói, ngay cả lương bộ trưởng thì 40 năm mới mua được nhà có thu nhập thấp. Cứ tính thì sẽ thấy mức thu nhập thực tế là bao nhiêu.


Trong khi đó, công chức của mình chưa làm bộ trưởng đã mua được nhà rồi, thậm chí là nhà... thu nhập cao.


Nhưng vì sao thực trạng này vẫn tiếp tục kéo dài?


Có một bộ phận cố tình duy trì vì nó là đặc quyền đặc lợi của họ. Vì nó là miếng cơm, manh áo của họ, bất chấp các hệ quả khác.


Còn một số người như chúng ta thì buộc phải chấp nhận vì pháp luật của mình có giới hạn. Chúng ta có muốn cũng không thể thay đổi được một cách căn bản.
 
Sự thực là rất nhiều cán bộ vẫn giàu đấy thôi!

Làm quan là để có cơ hội làm giàu. Nếu coi làm quan là một nghề làm giàu thì người dân phải biết "đầu tư". 


Vâng. Cũng biết là như thế nhưng làm quan thì phải có tố chất. Có lẽ người dân nên sống là chính mình để đỡ đau đầu.
 
Xin cảm ơn ông đã chia sẻ cùng độc giả KH&ĐS.

Tăng giá bây giờ mang tính chất cung cầu của thị trường, chứ không phải do tăng lương là tăng giá. Nhà nước hiện nay thường thực hiện tăng lương chậm so với tăng giá. Giá tăng khá cao rồi mới tăng lương chứ không phải tăng lương để cải thiện đời sống nhân dân, làm cho giá không đuổi theo.
Chúng ta cũng đã bị sốc nhiều bởi các vụ tăng giá khác nhau do những yếu tố như  giá xăng, điện, than, dầu, tỷ giá, giá đô la. Hàng loạt các cú sốc này với biên độ tăng rất cao, vượt nhiều lần so với tăng lương, thậm chí tăng tới 20 - 30% trong khi đó lương chỉ tăng 5 - 10% thôi.
Do vậy, mức tăng lương lần này là không đáng kể so với các mức tăng khác. Vì thế, tăng lương không còn có ý nghĩa làm cho người dân được tăng thêm khả năng mua.

Nguyên Tô (thực hiện)

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Thư của Nhà văn Nguyên Ngọc gửi Bí thư Thành ủy Hà Nội

Posted by basamnews on 31.08.2011

Đây là bức thư của tôi gửi ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, chiều 25-8-2011.
Định là thư ngỏ, nhưng tôi chưa công bố ngay, mà gửi trước cho vài người bạn qua email để tham khảo ý kiến.
Không biết qua đường nào, ông Phạm Quang Nghị đã biết được thư này và tối 25-8 đã đến nhà tôi, trong khi tôi đi vắng. Sáng 26-8 ông ấy đã gọi điện thoại cho tôi, nói rằng có thể Đài Phát thanh-Truyền hình Hà Nội “đã non nớt” trong khi phát phóng sự này.
Từ đó đến nay, tôi chưa công bố bức thư này để chờ xem của Đài PT-TH Hà Nội trả lời ra sao về việc làm sai trái của họ.
Nay đã có trả lời phủi tay và vô liêm sỉ của ông Trần Gia Thái, tôi quyết định đưa bức thư này ra trước công luận.
Nguyên Ngọc
 ———
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Ngày 25-8-2011
Kính gửi ông Phạm Quang Nghị,
Bí thư Thành ủy Đảng Cộng Sản Việt Nam thành phố Hà Nội,
Tôi viết thư này cho ông vì ông là Bí thư Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam của thành phố Hà Nội, là người lãnh đạo cao nhất của thành phố này, đương nhiên chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của các tổ chức và cơ quan dưới quyền lãnh đạo của ông, không chỉ là tổ chức Đảng mà cả tổ chức và cơ quan chính quyền theo cơ chế ở nước ta hiện nay.
Tối ngày 22 tháng 8 năm 2011, đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, trong chương trình thời sự hằng ngày của mình từ 18 giờ 30 đến 19 giờ, đã cho phát một phóng sự về những cuộc biểu tình và những người biểu tình ở Hà Nội trong thời gian vừa qua, mà chính ông Nguyễn Đức Nhanh, Giám đốc Công an thành phố, đã trịnh trọng tuyên bố trong một cuộc họp báo trước đó là biểu tình yêu nước chống Trung Quốc gây hấn, đe dọa nghiêm trọng nền độc lập của Tổ quốc Việt Nam. Vậy mà đến tối 22 tháng 8, đài phát thanh và truyền hình Hà Nội đã quay ngược hoàn toàn, coi các cuộc biểu tình và những người biểu tình ấy là phản động, và trong khi nói như vậy đã đồng thời đưa rõ hình ảnh ba người là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tiến sĩ Nguyễn Văn Khải và tôi.
Thưa ông,
Tôi năm nay đã 80 tuổi. Cho đến nay, trong suốt cuộc đời 80 năm qua của tôi, chưa có ai dám vu khống và xúc phạm tôi nặng nề như đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, một cơ quan đặt dưới dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, đứng đầu là ông. Ở nước ta, như chắc chắn ông biết, gọi một người là phản động cũng tức là kết tội người ấy là một tên phản quốc. Đối với tôi, đây là một sự lăng nhục cực kỳ nghiêm trọng, nhất quyết không thể tha thứ.
Đài này còn sử dụng một thủ đoạn ti tiện mà tôi nghĩ ở tuổi ông hẳn có thể ông cũng từng được biết, vào thời cải cách ruộng đất và Nhân văn Giai phẩm, dùng những người không được bất cứ ai cử ra nhưng lại được coi là đại biểu của “quần chúng nhân dân” lớn tiếng vu khống và chửi bới chúng tôi trên một phương tiện truyền thông chính thức của Đảng bộ và Chính quyền Hà Nội.
Tôi xin hỏi:
1 – Thành ủy Hà Nội, đứng đầu là ông, có chủ trương và chỉ đạo việc thực hiện chương trình sai pháp luật và cực kỳ vô văn hóa này của đài phát thanh và truyền hình Hà Nội không?
2 – Nếu không có chủ trương và chỉ đạo đó, mà đây chỉ là hành động “tự phát” của đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, thì ai chịu trách nhiệm về việc làm sai trái nghiêm trọng này? Thành ủy Hà Nội sẽ xử lý những người đó như thế nào?
Bởi vì sự xúc phạm của đài Hà Nội là công khai, với toàn dân, với cả nước, cả thế giới, nên bức thư này của tôi là thư ngỏ, và tôi yêu cầu câu trả lời của ông cũng phải công khai.
Tôi và tất cả những người có lương tri yêu cầu và chờ đợi câu trả lời đó.
Trân trọng,
Nguyên Ngọc

Rút kinh nghiệm với phóng viên làm tin về biểu tình

Đài PT -TH Hà Nội có công văn trả lời các ông Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Xuân DIện, Nguyễn Quang A... yêu cầu ông Tổng giám đốc Đài xin lỗi, cải chính một số nội dung đã phát sóng trong chương trình thời sự 18h30 ngày 22/8. 
Ngày 29/8/2011, Đài PT - TH Hà Nội đã nhận được bức thư đề ngày 26/8/2011 của các ông Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Xuân DIện, Nguyễn Quang A và các ông bà khác yêu cầu ông Tổng Giám đốc Đài xin lỗi, cải chính một số nội dung đã phát sóng trong chương trình thời sự 18h30 ngày 22/8.

Hôm nay (31/8),, Đài PT -TH Hà Nội đã có công văn trả lời. Toàn văn như sau:

 

(theo website Đài PT - TH Hà Nội)

Chính phủ 1945 của Cụ Hồ bắt đầu từ đâu?

- Được thành lập trong “một cái nháy mắt của lịch sử”, chính quyền Việt Nam non trẻ đã đứng vững trong cuộc đối chọi được với quân Tàu Tưởng ở miền Bắc, quân Anh - Pháp ở miền Nam. Đó cũng là nhờ những tinh hoa nước Việt đã theo Cụ Hồ gánh vác những trọng trách trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc.
 
“Trí thức hoá” nội các

 
Điều hành guồng máy Đảng giành và giữ chính quyền trong thế “đơn thương độc mã” (essentially alone - chữ dùng của học giả David Marr - chưa nhận được ủng hộ từ khối Xô viết) là Ban thường vụ Trung ương bốn người, do Cụ Hồ đứng đầu. Ba uỷ viên Thường vụ còn lại là Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Võ Nguyên Giáp lại chính là nòng cốt của “nhóm Le Travail”, nổi tiếng thời kỳ Mặt trận bình dân 1936 – 1939 vì tờ báo cách mạng tiếng Pháp cùng tên.

Một số thành viên nữa của nhóm Le Travail, như Đặng Thai Mai, Khuất Duy Tiến, Phan Anh… dưới bàn tay dụng nhân của Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện trong thành phần nội các ở những thời điểm khác trong năm đầu của nền dân chủ cộng hoà này.


Đêm đầu tiên của ông Ké Tân Trào - Hồ Chí Minh ở Hà Nội 25 tháng 8, một danh sách nội các đã đợi Người trên bàn. Danh sách này đã đăng trên tờ Cứu quốc, ra ngày hôm trước. Nhưng, Cụ Hồ đã không ngại ngần “rút” khỏi đó năm lãnh tụ cộng sản, thay vào đó là các nhân sĩ nổi tiếng.  Thế là trong số 15 bộ trưởng, chỉ còn 6 người là đảng viên CSĐD.


Trường Thăng Long... “đào tạo” Bộ trưởng?


Trong ảnh chụp chính phủ ra mắt đầu tiên, dân chúng thấy có ba thầy giáo trường Thăng Long: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hoè, Hoàng Minh Giám. Đây là những những đại diện nòng cốt của khối giáo viên và học sinh trường Thăng Long mà  tuyệt đại đa số đã đi theo cách mạng từ trước đó, thời tiền khởi nghĩa. Người dân sẽ nhận thấy thầy Nguyễn Dương làm Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam (từ tháng 2/1946); thầy Trịnh Văn Bính Thứ trưởng Bộ Tài chính (từ 11/1946), thầy Vũ Bội Liên (con tuần phủ thời) cán bộ Bộ Tư pháp, hy sinh ngay từ đầu kháng chiến chống Pháp…

Chính phủ lâm thời nước VNDCCH
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Mái trường Thăng Long từng âm thầm chứng kiến sự ra đời và lớn mạnh của nhóm Le Travail trẻ (JC: Jeunese communiste), Đoàn thanh niên dân chủ, Đoàn thanh niên phản đế, Đoàn thanh niên cứu quốc… trong từng bước đi tới cách mạng tháng Tám. Nay nhiều cựu học sinh Thăng Long sẽ giúp tạo trụ cột của chính quyền mới, vào các ngành Nội vụ, Tư pháp, Cảnh sát, Thuế quan, quân đội… Báo Cứu quốc (15/10/46) báo tin Lý Chính Thắng bị Pháp giết dã man. Một cựu học sinh Thăng Long khác, Lê Trung Toản, chỉ huy Trung đoàn Thủ đô phòng thủ Hà Nội cuối 1946…

Tài đức “dành trợ dân này”


Một nhà đại trí thức gần gũi với nhóm trí thức Thăng Long là Nguyễn Văn Tố, Hội trưởng Hội truyền bá Quốc Ngữ, cũng được mời vào nội các. Đó là vị bộ trưởng đầu tiên, Chủ tịch quốc hội đầu tiên của Việt Nam, hy sinh trong kháng chiến.


Từ đầu năm 1946, chính phủ Cụ Hồ được bổ sung thêm các trí thức Việt Minh Nam Bộ, để Chính phủ có thể điều hành cả một nửa kia của “sơn hà nguy biến”. Những tên tuổi Ca Văn Thỉnh, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu… đã lập tức hoà vào guồng máy việc công ở Hà Nội, chống thế “ngàn cân treo sợi tóc”.


...Một ngày giữa năm 1946, ông Võ Nguyên Giáp ghi vào kế hoạch công tác “(Nhớ) hỏi anh Bửu những người tài”.


Tạ Quang Bửu từng tu nghiệp ở các Đại học Sorbonne, Paris, Bordeaux, Oxford.


“Thanh niên tiền tuyến” thành tướng lĩnh cách mạng


Đồng Tổng Hướng đạo sinh Đông Dương Tạ Quang Bửu và Bộ trưởng Thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Phan Anh lập ra trường Thanh niên tiền tuyến vào tháng 5/1945. Không hẹn mà nên, cùng lúc với Trường quân chính kháng Nhật huấn luyện cán bộ quân sự cách mạng.


Trưa 21 tháng 8/1945 hai học viên Trường Thanh niên tiền tuyến, trước mắt hàng ngàn dân Kinh đô Huế, đã hạ cờ quẻ ly của triều Nguyễn, treo cờ đỏ sao vàng lên Kỳ đài tại Ngọ Môn, như hồi chuông đầu “nguyện hồn” nền quân chủ một ngàn năm. Đó là các ông Đặng Văn Việt, ba năm sau sẽ khét tiếng là “Hùm xám trên đường số 4”, Cao Pha – một cán bộ quân báo đầu tiên, một anh hùng Điện Biên Phủ.


Những người lãnh đạo Thanh niên Tiền tuyến từ đầu đã để cho Việt Minh thâm nhập vào tổ chức của họ. Kết quả Cụ Hồ có thêm những chỉ huy quân sự đầu tiên xuất thân từ tầng lớp trên. Người dân đau đớn nghe tin con trai học giả Lê Thước, Lê Thiệu Huy - tham mưu trưởng liên quân Việt Lào đã hy sinh 26/3/46, khi tháp tùng Hoàng thân Souphanouvong. Nếu lực lượng học viên Iunker lập ra Bạch vệ, quyết liệt chống chính quyền xô viết, thì nhiều học sinh sĩ quan Trường “Thanh niên tiền tuyến” lại trở thành những tướng lĩnh cách mạng thông thái mà dày dạn trận mạc, như Cao Văn Khánh, Mai Xuân Tần, Đoàn Huyên, Phan Hạo, Tôn Thất Hoàng…


Một đồng Tổng Hướng đạo sinh nữa là nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý. Ngay sau Lễ tuyên ngôn Độc lập, ông được Hồ Chí Minh triệu tập để thành lập ra binh chủng đầu tiên của Quân đội Việt Nam – Thông tin Liên lạc. Một sĩ quan tham mưu đầu tiên, ông Trần Trọng Trung, nhớ mãi hình ảnh các đội mô tô đeo thẻ bài “Hoả tốc”, phóng xuống các vùng nông thôn xa chuyển phát các công văn mật, khẩn cấp của việc quân. Họ do một trí thức ngoài Đảng, ông Phạm Thành Vinh, lúc đó là Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, chỉ huy.


Tướng tình báo do phương Tây đào tạo


Năm 1950, giới thiệu Hoàng Đạo Thuý, tư lệnh thông tin, với tướng Trần Canh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho vị cố vấn Trung quốc này “choáng”. “Đồng tử quân (Hướng đạo sinh) phục vụ thông tin cho chiến dịch ư?” Trần Canh hỏi lại, vì Đồng tử quân ở Trung Quốc là lực lượng phản cách mạng. “Nhà chú” (Trung Quốc) không hiểu nổi đâu. Đây là Đồng tử quân Việt Nam mà”, Cụ Hồ đáp.


Lãnh đạo chủ chốt của công an, tình báo, an ninh đầu tiên của Việt Nam là do… tình báo phương Tây đào tạo. Khoảng năm 1944 Lực lượng nhiệm SOE của Anh, có “sáng kiến” đào tạo các tù cộng sản Việt Nam, bị Pháp giam ở hải ngoại, để tung vào hậu phương phát xít Nhật. Một số đảng viên đã tương kế tựu kế, dùng vỏ bọc này để mang vũ khí, khí tài, và nhất là kiến thức tình báo về phục vụ cách mạng.
 
Đó là các ông Lê Giản, phó giám đốc Sở Liêm phóng (Công an) Bắc Bộ đầu tiên; Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), trong ảnh Chính phủ liên hiệp kháng chiến 1946 là thứ trưởng Nội vụ; Nguyễn Văn Ngọc, Giám đốc Sở Trinh sát Trung Bộ đầu tiên; Trần Hiệu, phó Giám đốc Sở CA Bắc Bộ, Hoàng Đình Rong (Vũ Đức), chỉ huy quân sự hy sinh ở Nam Bộ đầu kháng chiến. Đây là hiện tượng vô song trong lịch sử, vì các tình báo viên do phía đối phương đào tạo thường không thể trở thành lãnh đạo chủ chốt về an ninh, tình báo…

Cách dùng người như thế chỉ thấy ở Hồ Chí Minh.


Bộ trưởng không lương, nhận phụ cấp “cơm chan nước mắm”


Tri thức, tình yêu nước và biết “ăn cơm nhà vác ngà voi” có lẽ là những điều kiện cần để trí thức trở thành thành viên của chính quyền đầu tiên của nước Việt Nam DCCH. Hồi ký của các bậc lão thành cho biết “bữa ăn cơ quan” năm 1946 chỉ có cơm chan nước mắm, mà cũng không đủ.


Ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng Kinh tế đầu tiên, người Công giáo, nhớ lại trong những ngày nước sôi lửa bỏng 1946, Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh và Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp từng có những lần chạy ào qua nhà ông, xem “còn cơm nguội không”… Nhưng trong kế hoạch làm việc năm 1946 của lãnh đạo ngành Nội vụ và LLVT Võ Nguyên Giáp, đã đôi ba lần xuất hiện câu: “(Lo) phụ cấp cho nhân viên cơ quan”.


Lê Đỗ Huy

Giải quyết vấn đề Biển Đông công khai minh bạch

- Đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh Việt - Trung cấp Thứ trưởng lần thứ hai ngày 28/8 đã khẳng định Việt Nam và Trung Quốc cam kết giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thông qua tham vấn và đối thoại và hướng tới giải pháp hai bên cùng có lợi.

Giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua tham vấn và đối thoại


Việt Nam và Trung Quốc cam kết giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thông qua tham vấn và đối thoại. Đó là cam kết được đưa ra sau cuộc hội đàm giữa Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt và Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh. 


“Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với Việt Nam để bảo vệ vững chắc các lợi ích chiến lược chung, quan hệ toàn cục giữa hai nước cũng như hòa bình và ổn định trên Biển Đông bằng việc đẩy mạnh trao đổi thông tin, tham vấn và ngăn ngừa các kích động bên ngoài làm tổn hại đến quan hệ giữa hai quốc gia” - Bộ trưởng Lương Quang Liệt cho biết.


a
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc, Thượng tướng Lương Quang Liệt. Ảnh: VOV News
“Trung Quốc kiên trì giải quyết các tranh chấp thông qua các tham vấn và đối thoại. Hiện tại cả hai quốc gia nên nỗ lực để chủ động thúc đẩy phát triển chung, tin tưởng lẫn nhau và đẩy mạnh sự ổn định thông qua hợp tác” - ông Lương Quang Liệt nói.

Về phía Việt Nam, Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc cùng Trung Quốc đẩy mạnh trao đổi thông tin, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực giữa hai quốc gia, hai quân đội nhằm bảo vệ vững chắc hòa bình và ổn định trong khu vực. 


Trung tướng Nguyễn Chí  Vịnh cũng nhấn mạnh, hai quốc gia nên giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thông qua các tham vấn thân thiện và tin tưởng lẫn nhau, không để bất cứ lực lượng bên ngoài nào làm tổn hại đến các quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. 


Hướng tới giải pháp hai bên cùng có lợi

Trong Đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh Việt - Trung cấp Thứ trưởng lần thứ hai ngày 28/8 tại Bắc Kinh - Trung Quốc, dưới sự đồng chủ trì của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, hai bên đã nhất trí nhiều biện pháp thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương và đạt được nhận thức chung trong nhiều vấn đề, góp phần tăng quan hệ hữu nghị Việt - Trung.

Trung tướng Nguyễn Chí  Vịnh và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên đã thẳng thắn trao đổi những vấn đề còn khác biệt trong quan hệ hai nước. Theo Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, hiện nay điểm bất đồng và nhạy cảm nhất trong quan hệ hai nước là tranh chấp chủ  quyền ở Biển Đông, hai nước cần xử  lý thỏa đáng vấn đề này vì đại cục quan hệ Việt - Trung và ổn định khu vực.
“Hòa bình hai bên đều có lợi. Đối đầu hai bên đều thiệt hại”, Thượng tướng Mã Hiểu Thiên nói.

Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đại cục với Trung Quốc và  mong muốn tìm được giải pháp hai bên cùng có lợi, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đã nêu rõ vấn đề Biển Đông có ba khía cạnh khác nhau nhưng liên quan mật thiết, đó là Tuyên bố chủ quyền của các nước liên quan; Xử lý mối quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc; Xử lý trên các diễn đàn đa phương. Việt Nam và Trung Quốc có nhiều tuyên bố chủ quyền vào nhiều thời điểm, nội dung và phạm vi khác nhau. Giải quyết vấn đề phải tôn trọng lịch sử nhưng dù thế nào đi chăng nữa cũng phải tuân thủ luật pháp quốc tế.


Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam cho rằng, các vấn đề trên Biển  Đông cần được xử lý theo luật pháp quốc tế - đó là, những vấn đề mang tính quốc tế  theo Luật Biển phải giải quyết trên bình diện quốc tế, những vấn đề liên quan đến nhiều nước cần phải giải quyết giữa những nước liên quan, những vấn  đề liên quan đến hai nước cần giải quyết song phương.
Những tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam - Trung Quốc, rõ ràng cần giải quyết hai nước với nhau, theo luật pháp quốc tế và công khai minh bạch: “Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc vì chính lợi ích của chúng tôi”, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nói.

Trung tướng Nguyễn Chí  Vịnh cũng chia sẻ, để bảo vệ và xây dựng đất nước chỉ có một con đường là giữ  gìn độc lập tự chủ, chủ quyền lãnh thổ  và quan hệ tốt với cộng đồng thế giới, không thể có những điều đó nếu dựa vào nước này để chống nước kia. 


Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nêu bật việc cần phải công khai, minh bạch trên các diễn đàn để nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế hiểu rõ bản chất vấn đề Biển Đông trong mối quan hệ hữu nghị tổng thể giữa hai nước.


“Có thông tin đầy đủ và  chính xác là nhu cầu của hơn 80 triệu người dân Việt Nam và hơn 1 tỷ 350 triệu người dân Trung Quốc". Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam cũng thông báo chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn.


Theo Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: "Chúng ta cần làm cho nhân dân hai nước hiểu rõ, giữa Việt Nam và Trung Quốc còn tồn tại vấn đề nhưng hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết xử lý bằng biện pháp hòa bình, theo luật pháp quốc tế, với giải pháp hai bên cùng có thể chấp nhận được”.


Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh thêm: “Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam, và Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ  quyền. Việt Nam sẵn sàng hợp tác cùng phát triển với Trung Quốc ở những khu vực thực sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế quy định, và về lâu dài sẽ tìm giải pháp xử lý mà hai bên có thể chấp nhận được, nhưng “trong lúc chưa phân định được, hai bên tuyệt đối không được sử dụng vũ lực và thậm chí cũng không được nghĩ đến việc sử dụng vũ  lực”. 


Minh Phạm
(Tổng hợp từ Xinhua, VOV News)

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Khi nhiều người quay lưng với giải thưởng

TT - 1. Xã hội đang có hai cực. Một đầu cực là nạn “chạy”: chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy tuổi (về hưu), chạy huân chương, chạy danh hiệu...
Đầu cực kia là từ chối danh hiệu: nhà văn Hồ Anh Thái, nhà thơ Hữu Thỉnh từng từ chối giải thưởng của Hội Nhà văn... Năm 2000, Nguyên Ngọc vắng mặt trong lễ trao Huân chương Độc lập dành cho ông. Ông cũng từng từ chối nhận Giải thưởng Nhà nước đợt đầu tiên. Năm nay Nguyên Ngọc, Nguyễn Khoa Điềm cũng đề nghị rút khỏi danh sách đề cử Giải thưởng Hồ Chí Minh. Gia đình hai nhà văn Sơn Tùng, Sơn Nam cũng xin rút khỏi danh sách đề cử xét tặng Giải thưởng Nhà nước.
2. Thời gian chứng minh rằng các tác phẩm mới có giá trị vĩnh viễn; còn danh hiệu, chức vụ... chỉ là nhất thời. Xã hội nhớ tới Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Trịnh Công Sơn, Phạm Tuyên... vì nhớ tới sáng tác của các nhạc sĩ này chứ không vì họ đã có những giải thưởng gì.
3. Quan hệ giữa giải thưởng và người được phong tặng là quan hệ hai chiều.
Khi phong tặng đúng: a) Những công trình của người được giải sẽ làm giải thưởng thêm danh giá. b) Giải thưởng là một ghi nhận của cơ quan trao giải với cống hiến của cá nhân.
Nếu phong tặng sót: những chân tài không hề buồn phiền. GS Hoàng Tụy không được giải thưởng này nọ của Nhà nước nhưng tên tuổi ông được vinh danh trong lịch sử toán học thế giới là “cha đẻ của lĩnh vực Tối ưu hóa toàn cục”.
Phong tặng sai: để vàng thau lẫn lộn sẽ giống như một máy xát gạo còn để sạn thóc lẫn trong gạo tám thơm. Lúc đó cái cơ chế phong tặng sẽ được xã hội đánh giá như cỗ máy xát gạo không đáng tin cậy. Hạt gạo không biết tự nhảy ra để phân biệt với sạn thóc, nhưng những chân tài luôn luôn biết tự trọng. Trong số rất nhiều người xứng đáng nhận giải thưởng, có những người chủ yếu do không màng tới danh lợi và cũng phần vì không muốn đứng chung với những người “thành công” trong việc “chạy giải thưởng” nên họ từ chối giải thưởng.
Năm 1973, Lê Đức Thọ từ chối nhận giải Nobel hòa bình danh giá. Ông không muốn gắn tên với Henry Kissinger (ngoại trưởng Mỹ thời Richard Nixon). Cả hai đều được nhận giải thưởng này do cuộc đàm phán Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973.
Nhưng khá nhiều văn nghệ sĩ quay lưng với giải thưởng là tín hiệu khiến những người có trách nhiệm cần xem xét lại cái cơ chế trao tặng giải thưởng, phong tặng danh hiệu “ưu tú”, “nhân dân” cho các cá nhân thuộc những ngành nghề xã hội khác nhau.
NGUYỄN ĐỨC DÂN

Dũng khí trên nghị trường khó hơn dũng khí trên chiến trường

Gọi điện xin phỏng vấn Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI vào buổi tối, giọng cụ mệt mỏi nhưng cụ vẫn đồng ý ngay. Hôm sau đến tôi mới biết lão tướng 85 tuổi vừa tham gia hành trình 8 ngày trên tất cả những nghĩa trang lớn, thắp hương cầu nguyện cho các liệt sĩ.
Thời điểm tôi gọi điện thoại là cụ vừa về đến Hà Nội, nhưng khi nghe tôi trình bày đề tài phỏng vấn, cụ đồng ý ngay vì “thời gian gần đây tôi đứng ngồi không yên, cứ nghĩ đến chuyện thời cuộc đất nước là tôi nằm đến 4h sáng cũng không ngủ được”.
“Khi đi thăm các nghĩa trang, tôi cảm nhận có lẽ các liệt sĩ vẫn chưa được thanh thản được, vẫn lo lắng về thời cuộc. Tôi nói: thôi các đồng chí đã hy sinh rồi, các đồng chí hãy yên lòng”.

Vị lão tướng trầm ngâm mở đầu buổi trò chuyện.
Bộ trưởng mà nghỉ cả tháng cũng chẳng ảnh hưởng gì thì hỏng

Quốc hội nhiệm kỳ mới vừa họp, một loạt các chức danh trong Chính phủ đã được công bố. Các tân bộ trưởng cũng đã ra mắt và có những phát biểu, hứa hẹn đầu tiên. Phát biểu của bộ trưởng nào khiến ông ấn tượng nhất
?
Tốt nhất hãy để thời gian trả lời, nói sớm không chính xác, không công bằng. Điều tôi quan tâm nhất là họ làm như thế nào, chứ không phải họ nói gì.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải từng nhận định ghế Bộ trưởng Tài nguyên - Môi trường là chiếc ghế nóng, "đến mức ai thoát ra cũng nhảy chân sáo". Với sự quan sát của một ĐBQH nhiều khóa, ông cho rằng chiếc ghế của Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang đã nóng nhất chưa. Theo ông, lĩnh vực nào hiện nay cần sự quan tâm đặc biệt
?
Trên từng mặt trận đều có những vấn đề bức xúc, trong đó tài nguyên & môi trường là một mặt trận bức xúc. Không chỉ bức xúc cho nhiệm kỳ này, mà bức xúc cho nhiều nhiệm kỳ sau, 50 năm hay 100 năm sau của dân tộc Việt Nam.

Tôi tính riêng vụ Vedan đã gây ra một vụ hủy hoại sinh thái khủng khiếp như thế, trong khi cả nước này nếu làm nghiêm sẽ còn bao nhiêu Vedan khác nữa. Vì lợi ích kinh tế trước mắt phá hoại môi trường thì môi trường sẽ hủy diệt lại vấn đề kinh tế.
Giờ nhìn đâu cũng thấy khai thác khoáng sản, người ta chạy đua xuất khẩu mỗi năm tăng mấy chục % , nhưng trong mấy chục % đó có bao nhiêu phần phá hoại môi trường, trong khi môi trường là cái gốc tồn vong của đất nước.
Giống như câu chuyện xuất khẩu rồi lại nhập khẩu than là ví dụ. Thi đua xuất để ghi thành tích, hết rồi lại phải nhập để dùng. Khi xuất ông nói cũng phải, khi phải nhập ông cũng cho là đúng, hoàn toàn là ngụy biện. Cuối cùng chỉ có môi trường và người dân là chịu đủ.
Khi tôi còn là ĐBQH, ông Lê Huy Ngọ khi đó là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chia sẻ ông (Lê Huy Ngọ) rất đau lòng về câu chuyện muối. Việt Nam có 3000km bờ biển mà ta phải nhập khẩu muối từ nước ngoài về.
Mục đích hay lợi ích trong những việc này thuộc về ai, điều này ông nhưng ông bộ trưởng của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương và Bộ Thương mại phải trả lời cho bà con.
Khác lệ thường, khi nhậm chức mới tân Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến không hứa gì, phải chăng bà rút kinh nghiệm của người tiền nhiệm?

Nói như vậy là thỏa đáng. Nếu giờ phô trương, hứa hẹn nhiều quá nhưng kết quả hành động không được như vậy. Một người hứa hẹn nhiều chưa chắc là người nhiệt huyết hơn người không nói gì, quan trọng là sau đó họ sẽ làm thế nào, các ĐBQH và nhân dân sẽ giám sát lời nói và hành động của họ.
Bộ trưởng mà nếu có đi vắng hay nghỉ việc cả tháng cũng chẳng ảnh hưởng gì đến lĩnh vực đó thì hỏng, thế nhưng số đó lại không ít đâu.
Giống như chuyện chất vấn trong QH, đại biểu chất vấn, bộ trưởng trả lời, hứa hẹn… rồi ngày mai mọi việc lại đâu vào đó thì việc chất vấn hay hứa hẹn đều chẳng có giá trị gì.
Trong suốt quá trình làm ĐBQH trong ba khóa liên tiếp, ông ấn tượng với vị Bộ trưởng nào nhất
?
Một người khiến tôi nhớ nhất là Bộ trưởng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Lê Huy Ngọ. Ông làm việc trong thời điểm 3 – 4 bộ sát nhập với nhau. Theo quan sát của tôi, ông Ngọ là người vừa dám nói, vừa dám làm, vừa dám nhận khuyết điểm. Có lẽ ông Ngọ cũng là người duy nhất có văn hóa từ chức.
Tôi nhớ mãi hình ảnh ông ấy trong các lần về thị sát và thăm hỏi bà con vùng bão lụt, trông ông giống hệt một ông nông dân lội ruộng.
Một người nữa tôi cũng ấn tượng không kém là Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển. Thời kỳ khó khăn nhất trong quan hệ Việt – Mỹ, ông Tuyển đã có công rất lớn trong việc thúc đẩy bình thường hóa giữa hai nước.
Ngay cả khi rời ghế Bộ trưởng về làm cố vấn cho chính phủ, ông Tuyển vẫn đưa ra những ý kiến sắc sảo, quyết liệt mà các thành viên chính phủ không đưa ra được. Thậm chí nhiều ý kiến của ông Tuyển còn đi ngược với quan điểm của Chính phủ. Có thể nói, ông Tuyển là con người của khí phách, có tâm, có tầm.
Còn có nhiều người khác cũng khiến tôi nhớ, nhưng theo hướng tiêu cực: không những hứa suông mà nói một đường làm một nẻo; nói rất hay, rất mị dân nhưng hiệu quả công việc hoàn toàn ngược lại. Đối tượng đó tôi không tiện nêu tên ở đây.
Dũng khí trên nghị trường khó hơn dũng khí trên chiến trường

Ông từng nói: nghị sĩ phải có dũng khí như một chiến sĩ
?
Chất vấn QH chính là một cuộc đấu tranh, đấu tranh giữa các quan điểm, giữa đúng và sai, giữa tích cực và tiêu cực… Nhưng nghị trường và chiến trường khác nhau. Rất nhiều người cầm súng trên chiến trường rất dũng cảm, nhưng ở nghị trường dũng khí lại mất đâu hết cả.
Khi trước mặt là kẻ thù, sau lưng là dân tộc, người chiến sĩ không có quyền lợi gì, trên vai mang ba lô nhỏ với bộ quần áo sờn quyết chiến đấu để bảo vệ nhân dân. Giờ trên nghị trường, họ lại phải cân nhắc: khi nói ra một điều thì họ được gì và sẽ mất gì cho bản thân.
Xưa hi sinh là vì tổ quốc, bây giờ không thể hi sinh trên nghị trường vì tổ quốc. Dũng khí trên nghị trường khó hơn nhiều dũng khí trên chiến trường.
Giữa những trên – dưới, bạn bè, trước – sau, lợi – hại… Cuộc đấu ở nghị trường là cuộc đấu ‘tế nhị’, khó hơn nhiều vì họ phải thử thách và vượt lên chính mình.
Và dũng khí người lính/nghị sĩ của ông được kể lại trong giai thoại đòi Chủ tịch hội đồng bộ trưởng (Thủ tướng) Đỗ Mười từ chức
và hùng hồn tuyên bố trước QH: không có ông bộ trưởng nào qua mặt được tôi?
(Cười) Vụ này cũng lâu rồi, từ QH khóa IX. Khi đó Chủ tịch hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười mới mở ra vấn đề đổi mới. Trong một lần họp QH, ông Đỗ Mười than: “Tôi làm Chủ tịch hội đồng bộ trưởng mà “mấy thằng” bộ trưởng tôi không điều khiển được”.

Tôi đứng dậy nói luôn: “Thưa anh Đỗ Mười, anh làm Chủ tịch hội đồng bộ trưởng mà không điều khiển được các bộ trưởng thì anh nên từ chức. Tôi làm Tư lệnh quân khu, tôi ra lệnh cho các sư trưởng cấp dưới, nếu người nào không chấp hành thì một là anh ta nghỉ hai là tôi nghỉ, không thể hai anh cùng tồn tại”.
Lát sau nghỉ giải lao ra hành lang, một nhà báo thân tình nói nhỏ: “Bác chết đến nơi rồi!” Tôi bảo: “Chết thế nào được!” .
Chuyện bộ trưởng thì cũng đúng. Tôi tự tin vì được nhiều chuyên gia, các học giả và nhân dân giúp sức cung cấp tài liệu để đủ cơ sở để ‘kiểm tra chéo’ lời nói và việc làm của các ông bộ trưởng, lơ mơ là tôi chỉ ngay.
Tôi không phải khoe, nhưng tôi làm mọi việc từ trong tim. Năm 2001, vợ tôi bị tai biến rồi liệt, khi đó tôi đang là ĐBQH vẫn sáng họp QH, trưa về chăm vợ vừa đọc tài liệu, chiều lại vào họp.
Trong lúc làm việc cũng có điều tôi nói có thể đúng, có thể sai, có thể hiệu quả hay chưa thật hiệu quả; nhưng tôi đều cố gắng nêu hết những vấn đề đáng quan tâm, không có gì phải cân nhắc lợi – hại cho bản thân. Bộc lộ hết, nói hết, nói thẳng thừng!.
Tuy giờ tôi đã về hưu rồi, nhưng không ngày nào tôi bỏ qua các tin tức về tình hình đất nước. Từ hôm 26/5, phía Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh đến nay không ngày nào tôi ngồi yên. Tôi đã gọi điện cho nhiều đơn vị, Tổng biên tập các tờ báo, tôi cũng gửi thư chia sẻ quan điểm với Bộ Chính trị về tình hình hiện nay.
Tình hình nước sôi lửa bỏng vậy, một ông già sắp 85 tuổi như tôi cũng không thể ngồi yên được.
Mong Bộ trưởng Quốc phòng đặc biệt quan tâm tới an ninh biển

Là một lão tướng quân đội, lại từng là ĐBQH nhiều khóa, ông có lời động viên hay nhắn nhủ nào tới Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh
?
Trách nhiệm của quốc phòng hiện nay rất nặng nề, đặc biệt là trách nhiệm của lực lượng hải quân trên Biển Đông cực kỳ nặng nề khi được Bộ Quốc phòng giao trọng trách bảo vệ gần 1.000.000 km2 biển, bằng ¾ lãnh thổ. Như vậy riêng hải quân đã gánh trách nhiệm gấp ba trong việc bảo vệ lãnh thổ.
Cho nên, Bộ Quốc phòng phải hết sức chú trọng đầu tư tiềm lực để bảo vệ chủ quyền biển. Với chức danh là người đứng đầu Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm trước toàn dân về nhiệm vụ quốc phòng, tôi mong Bộ trưởng đặc biệt quan tâm đến an ninh biển.
Không chi thế, Bộ Quốc phòng và người đứng đầu bộ phải kéo bằng được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị - xã hội, bộ máy Nhà nước, Chính quyền cũng như bộ máy Đảng và 84 triệu người dân ủng hộ quân đội tạo nên sức mạnh tổng hợp cùng xây dựng, bảo vệ biển đảo.
Riêng hải quân và quân đội là nòng cốt trong sức mạnh tổng hợp đó, chứ nếu đơn thương độc mã thì không chỉ trên biển, mà ngay trên đất liền lực lượng này sẽ không thể bảo vệ được đất nước. Bài học đó chúng ta đã quá biết qua bao cuộc chiến chống xâm lược trong quá khứ.
Bảo vệ biển không phải chúng ta chuẩn bị gì đó cho sự đụng độ vũ trang, đó không bao giờ là lựa chọn của một quốc gia hòa bình. Sức mạnh ở đây là tổng hòa của kinh tế, chính trị, ngoại giao và các phát triển khác.
Khi sự việc cắt cáp tàu Bình Minh xảy ra, nhiều người hỏi tôi sao Bộ quốc phòng không đưa lực lượng hải quân ra. Tôi cho rằng họ không hiểu: một dân tộc đã chịu nhiều đau khổ vì chiến tranh như Việt Nam lúc nào cũng chỉ muốn hòa bình.
Chúng ta không gây hấn với ai cả, nhưng nếu ai cố tình xâm phạm thì chúng ta quyết chống để bảo vệ đất nước.
Chúng ta yêu hòa bình, quyết giữ hòa bình, nhưng chỉ có thể gọi là hòa bình khi chúng ta giữ được toàn vẹn lãnh thổ mà không xảy ra đụng độ, xung đột. Còn nếu phải đánh đổi mất đất, mất biển để lấy một cái hòa bình con con của vài người thì hoàn toàn vô nghĩa.
Chúng ta hãy nhớ bài học chống Mỹ: người Mỹ thua Việt Nam ngay trên đất Mỹ khi hàng triệu người Mỹ yêu hòa bình đã phản đối chính phủ Mỹ gây chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tôi tin 1,3 tỷ người dân Trung Quốc không phải ai cũng hung hăng đòi ‘nuốt’ Việt Nam. Chúng ta cũng phải làm thế nào để những người dân Trung Quốc bình thường, nhân ái, yêu hòa bình ủng hộ chúng ta.
Xin cảm ơn ông!

Hoàng Hường